Những bài viết về chủ đề phát triển bản thân với mục đích giúp bản thân phát triển thân – tâm và tốt hơn mỗi ngày. #personaldevelopment
Hãy để bản thân trở nên thông thái, làm chủ và biết cách ứng xử trước mọi tình huống. Hãy hướng đến cuộc sống tốt hơn hay còn là trở thành phiên bản tốt hơn của chính mình trong mọi hoàn cảnh và trước mọi khó khăn, cám dỗ cuộc đời.
Robert Walter Weir là một trong những giáo viên huấn luyện nổi tiếng của trường quân sự West Point vào những năm giữa thế kỉ 19, ông ấy dạy vẽ & hội họa. Các lớp học nghệ thuật của Weir là bắt buộc tại West Point. Nghệ thuật có thể mở rộng tầm nhìn của bạn, nhưng đó không phải là lý do chính.
Các học viên trường West Point thế kỉ 19 cần phải giỏi vẽ để có thể vẽ những tấm bản đồ chất lượng. Bản đồ chất lượng cao của Hoa Kỳ – chẳng hạn như khu vực Mexico – rất khan hiếm nếu chúng tồn tại. Các sĩ quan quân đội được kỳ vọng sẽ vẽ bản đồ nhanh chóng và ghi lại địa hình của chiến trường. Nó là yếu tố vô cùng quan trọng trong chiến tranh. Nhiều tướng lĩnh quân sự nổi tiếng thời đó đều có khả năng vẽ bản đồ rất giỏi.
Hiện nay, West Point không còn mở các lớp học vẽ hoặc hội họa nữa. Khóa học bản đồ duy nhất của nó nhấn mạnh vào phần mềm và công nghệ lập bản đồ.
Vẽ (bản đồ) là một kỹ năng quân sự gần như đã hết hạn. Nó đã rất quan trọng trong một thời đại, giảm dần trong thời gian tiếp theo, và bị lãng quên đến mức hiện tại người ta còn không giải thích được vì sao nó đã được giảng dạy.
Rất nhiều thứ trong cuộc sống đã xảy ra theo cách đó. Mọi lĩnh vực đều có hai loại kỹ năng:
Những kỹ năng đang hết hạn, rất quan trọng tại một thời điểm nhất định nhưng có xu hướng giảm dần khi công nghệ cải tiến và một lĩnh vực phát triển.
Những kỹ năng lâu dài, vốn rất cần thiết cách đây 100 năm như ngày nay, và sẽ vẫn là 100 năm nữa.
Cả hai đều quan trọng. Nhưng lại được chúng ta được đối xử khác nhau.
Kỹ năng đang hết hạn có xu hướng được chú ý nhiều hơn. Chúng có nhiều khả năng trở thành những điều mới mẻ, thú vị và là động lực chính cho hiệu suất ngắn hạn của ngành. Đó là những gì người sử dụng lao động đánh giá cao và nhân viên phô trương, nêu bật trong bản giới thiệu về mình.
Kỹ năng lâu dài là thì khác. Chúng đã tồn tại trong một thời gian dài, điều này khiến chúng trông cũ kỹ và khá đơn giản. Chúng có thể khó xác định và định lượng, điều này tạo ra suy nghĩ nó là những phẩm chất về tinh thần hơn là những kỹ năng của bản thân.
Nhưng các kỹ năng lâu dài cộng lại theo thời gian, điều này mang lại cho chúng tầm quan trọng thầm lặng. Và khi bạn có thể dành cả đời để hoàn thiện một kỹ năng mà tầm quan trọng của nó không bao giờ suy giảm, thì phần thưởng có thể rất lớn.
Một số kỹ năng lâu dài áp dụng cho nhiều lĩnh vực:
Đừng trở lên láu cá, khôn lỏi. Việc là một người láu cá có thể bù đắp cho con người một hoặc nhiều khiếm khuyết. Nhưng rõ ràng, việc láu cá hay khôn lỏi sẽ không bao giờ có tác dụng lâu dài cho sự nghiệp. Họ không dạy điều này trong trường học, nhưng đó là một trong kỹ năng nghề nghiệp quan trọng nhất.
Sự sẵn sàng điều chỉnh các quan điểm mà bạn nghĩ là luôn luôn đúng. Rất nhiều điều chúng ta tin tưởng về lĩnh vực của mình hoặc là đúng nhưng chỉ tạm thời, hoặc là sai nhưng có vẻ rất thuyết phục. Cuốn sách Nửa đời sự thật của Sam Arbesman làm rõ điều này một cách khó chịu. Ông viết: “Kiến thức y học về xơ gan hoặc viêm gan mất khoảng 45 năm để một nửa trong số đó bị bác bỏ hoặc trở nên lỗi thời”.
Hòa đồng với những người bạn không đồng quan điểm. Những người thông minh ngang nhau có thể đưa ra những kết luận khác nhau. Và như Larry Summers đã từng lưu ý, “Hãy nhìn xung quan, sẽ luôn có những kẻ ngốc.” Một số người chúng ta có thể tránh được. Nhưng nhiều người không thể. Bạn phải đối diện với họ bằng giao tiếp. Những người coi mọi bất đồng như một trận chiến phải thắng trước khi đi tiếp cuối cùng lại bị mắc kẹt lại mà thôi.
Đưa ra góc nhìn. Mọi người đều bận. Hãy đưa ra quan điểm của bạn và không quá quan tâm tới quan điểm của những người khác.
Tôn trọng sự may mắn cũng như bạn tôn trọng rủi ro. Thừa nhận rủi ro là khi điều gì đó xảy ra ngoài tầm kiểm soát của bạn ảnh hưởng đến kết quả và bạn nhận ra nó có thể xảy ra một lần nữa. Thừa nhận may mắn là khi điều gì đó xảy ra ngoài tầm kiểm soát của chúng ta, ảnh hưởng đến kết quả và bạn nhận ra nó có thể sẽ không xảy ra nữa.
Đứng ngoài cũng quan trọng như việc lao vào giúp đỡ. Điều này có nghĩa rằng, trong nhiều hoàn cảnh, việc đứng ngoài quan sát cũng đem lại nhiều giá trị như khi cố gắng giúp đỡ một ai đó.
Chấp nhận những nghịch cảnh khi thực tế yêu cầu phải vậy. Nó như là khả năng chúng ta có thể thoải mái nếu rơi vào những hoàn cảnh khốn khó. Frances Perkins, Bộ trưởng Lao động của Franklin Roosevelt, cho biết điều đáng chú ý nhất về chứng tê liệt của tổng thống là nó dường như ít làm phiền ông đến mức nào. Anh ấy nói với cô ấy: “Nếu bạn không thể sử dụng chân và họ mang sữa cho bạn khi bạn muốn có nước cam, bạn sẽ học cách nói” không sao cả “và uống nó.” Một kỹ năng hữu ích và lâu dài trong một thế giới không ngừng phá vỡ và phát triển. Thực sự, đây là một kỹ năng vô cùng khó.
Khả năng phân biệt “tạm thời không được ưa chuộng” với “sai”. Khả năng chịu đựng là yếu tố then chốt vì mọi ngành đều có tính chu kỳ và vượt qua những ngày đen tối của nó là cách duy nhất để đảm bảo bạn là một phần của những ngành tốt. Tuy nhiên, biết rời bỏ khi bạn nhận ra rằng bất cứ điều gì thúc đẩy thành công trong quá khứ không còn hoạt động nữa cũng là chìa khóa. Warren Buffett cho biết thời gian nắm giữ cổ phiếu yêu thích của ông là mãi mãi, tuy nhiên sau đó ông bán phá giá số cổ phiếu hàng không trị giá 7 tỷ USD dựa trên dữ liệu trong vài tuần. Điều đó có thể giống như một sự mâu thuẫn, nhưng đó có thể là một ví dụ về việc luôn kiên nhẫn nhưng không bao giờ cứng đầu.
Những kỹ năng đó sẽ bao giờ cũ, không bao giờ hết hạn.
Tôi đã suy nghĩ khá nhiều về khác biệt của việc đạt được kiến thức và vận hành sử dụng kiến thức. Tôi luôn dành nhiều thời gian để nghiên cứu mỗi ngày. Tôi thích việc đọc, nhiều khi không hẳn là vì mục tích học tập hay là giải trí.
Trong năm qua, một năm nhiều biến động, tôi nhận thấy mình dành nhiều thời gian hơn để đọc thông tin. Chắc hẳn, ai trong chúng ta cũng có thể thấy việc tương tự như thế, chúng ta sử dụng thời gian để đọc nhiều hơn, chúng ta dành nhiều thời gian hơn để tìm hiểu những điều gì đang diễn ra hiện tại. Chúng ta đọc về lịch sử, triết học, tâm lý học và bất kỳ lĩnh vực nào khác có thể mang lại cho chúng ta một số kiến thức, trí tuệ để ít nhất chúng ta cảm thấy tốt hơn.
Nhưng tất cả sự “tạo ra kiến thức” này chỉ dẫn đến việc chúng ta có nhiều kiến thức hơn và ít thực hành hơn. Và như bạn và tôi đều biết, nhiều kiến thức hơn bản thân nó là không hữu ích. Bạn muốn làm gì với tất cả những thông tin mà bạn đang đặt ra trong đầu?
Vậy, chúng ta phải làm như thế nào?
“Bí quyết” để tốt hơn?
Đầu tiên, hãy bắt đầu nhìn nhận mình là một vận động viên. Công việc của bạn là thực hiện trò chơi gọi là cuộc sống này và để thực hiện, bạn cần hai thứ: Kế hoạch và Sức chịu đựng.
Kế hoạch
Bạn tạo kế hoạch của mình dựa trên kiến thức, sự thông thái mà bạn có được. Ở một góc độ nào đó, chúng ta đều biết cần những gì để có một cuộc sống và sự nghiệp tốt đẹp. Đó là điều bình thường: Chăm sóc bản thân, ngủ đủ giấc, không quá coi trọng mọi thứ, cười một chút, thiền, tử tế với người thân, thể hiện lòng trắc ẩn, tránh thỏa mãn ngắn hạn, v.v. Không có gì phức tạp về điều đó. Hầu hết chúng ta đều giỏi trong việc tạo ra một kế hoạch. Nhưng có lẽ chúng ta thiếu sức chịu đựng. Vậy điều gì xảy ra? Chúng ta đấu tranh. “Tại sao tôi lại cảm thấy hụt hẫng? Tại sao tôi lại mắc kẹt trong sự nghiệp của mình? ” Vâng, bạn biết những gì nó cần! Bạn cần một chút sức chịu đựng tinh thần để vượt qua điều đó và đạt được thành quả của bản thân.
Sức chịu đựng.
Bây giờ chúng ta chỉ cần tìm ra cách để cải thiện sức chịu đựng của mình. Trên thực tế, đây là điều mà chúng ta rất dễ biết được. Làm thế nào để cải thiện sức chịu đựng thể chất của bạn? Người chạy bộ làm gì? Các vận động viên làm gì mỗi ngày trong cuộc đời của họ?
Đúng vậy, họ rèn luyện. Lý tưởng nhất là với một bậc thầy, huấn luyện viên hoặc một người nào đó đã từng ở đó. Marcus Aurelius, từng là người đàn ông quyền lực nhất phương Tây, khiêm tốn nói: “Việc thành thạo đọc và viết cần một bậc thầy”. Ông ấy có thể đã nói về một kỹ năng như viết lách, nhưng điều này đúng khi nói đến mọi thứ.
Tất cả chúng ta đều cần rèn luyện kỹ năng và trí óc để nâng cao sức chịu đựng của tinh thần. Một lợi thế rất lớn về thời đại kỹ thuật số của chúng ta là bạn không cần phải biết về một bậc thầy. Bạn có thể học qua sách, bài báo, khóa học, podcast, v.v… Kiến thức rất dễ tìm kiếm và tiếp cận ở mọi nơi chỉ với chiếc máy tính có kết nối mạng.
Điều quan trọng là hãy rèn luyện một cách có tâm. Đừng chỉ học mọi thứ. Biến mọi thứ bạn học thành một hoạt động. Ví dụ, để rèn luyện sự tĩnh lặng bên trong thì có thể tập thiền định hoặc đi bộ dài mà không bị phân tán tư tưởng. Để trở thành một diễn giả giỏi hơn, hãy đọc nhiều lần nhật ký của bạn mỗi ngày một cách đúng chính tả và rõ ràng. Để trở thành một nhà văn giỏi hơn, hãy thiết kế ngày của bạn theo cách mà bạn dễ dàng tập trung vào việc viết nhất mà không hề bị phân tâm trong quá trình đó. Bạn không thể mong đợi cải thiện hoặc duy trì ở một trình độ nhất định nếu không được rèn luyện và đào tạo thích hợp. Nó giống như ăn, tắm và thở: Đó là một quá trình luyện tập liên tục.
Ernest Hemingway cũng biết rằng “bí quyết” để trở nên tốt hơn là rèn luyện. Ông từng nói: “Không phải vì mọi người thích mà bạn viết, mà hãy để mọi người thấy rằng bạn sinh ra để viết.”. Đó là bí mật nhưng không phải là bí mật. Tất cả chúng ta đều biết cần những gì để trở nên tốt hơn. Chúng ta cần rèn luyện.
Sau khi bạn đã tiến bộ, mọi người sẽ nhìn vào bạn và nghĩ: “Chà, người này sinh ra để làm việc này!” Khi ấy, bạn biết rằng quá trình rèn luyện của mình mới bắt đầu thành công.
Tôi muốn kết bài bằng một câu nói:
“Trong thế giới lý tưởng, mọi thứ phụ thuộc vào nhiệt huyết… trong thế giới thực tế, tất cả đều dựa vào sự bền bỉ.” – Johann Wolfgang von Goethe
Lòng tự trọng là sự đánh giá chủ quan của một cá nhân về giá trị của bản thân. Lòng tự trọng bao gồm niềm tin về bản thân cũng như các trạng thái cảm xúc, chẳng hạn như chiến thắng, tuyệt vọng, tự hào và xấu hổ.
– Wikipedia
4 thói quen tâm lý để cải thiện lòng tự trọng
Nick Wignall là một nhà tâm lý học, anh ấy đã dành nhiều thời gian để nói chuyện với những người gặp rắc rối với lòng tự trọng thấp. Họ nói những điều như:
Tôi rất thành công, nhưng cảm thấy chưa bao giờ là đủ.
Tôi biết nói điều này là tệ, nhưng tôi không bao giờ cảm thấy bản thân thực sự có giá trị.
Nhưng cho dù nguyên nhân ban đầu khiến bạn tự ti là gì, thì đây là những gì bạn cần hiểu về nó:
Lòng tự trọng là thứ bạn có thể xây dựng bằng những thói quen tốt hơn.
Hầu hết mọi người dành quá nhiều thời gian để cố gắng hiểu lòng tự trọng thấp của họ, đến nỗi họ không còn chút năng lượng nào để xây dựng lòng tự trọng cao hơn.
Nếu bạn muốn có lòng tự trọng tốt hơn, hãy tập trung vào việc xác định và xây dựng những thói quen nhất quán sẽ cải thiện lòng tự trọng của bạn. Hãy thử 4 điều sau:
1. Giữ lời hứa với bản thân
Những người có lòng tự trọng thấp thường rất giỏi trong việc giữ lời hứa với người khác và rất tệ trong việc giữ lời hứa với chính mình.
Họ quan tâm đến nhu cầu và mong muốn của người khác đến mức cuối cùng họ phải liên tục thỏa hiệp những gì họ muốn. Và khi sự thỏa hiệp này trở thành một thói quen, lòng tự trọng của họ sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Nghĩ về nó theo cách này:
Nếu bạn có một người bạn, và bạn liên tục phớt lờ những lời đề nghị của họ, không để ý đến những lời giới thiệu của họ, họ sẽ nghĩ gì về bạn?
Họ nghĩ rằng bạn là một người bạn khá tệ hại!
Họ sẽ nhanh chóng đánh mất sự tôn trọng dành cho bạn, bắt đầu nghĩ xấu về bạn và nhiều khả năng là họ không còn muốn dành thời gian cho bạn.
Chà, bạn nghĩ điều gì sẽ xảy ra với mối quan hệ của bạn với chính mình khi bạn phớt lờ những đề xuất và mong muốn của chính mình, không quan tâm đến những khuyến nghị và cam kết của chính bạn và bỏ qua những kế hoạch mà bạn đặt ra cho chính mình?
Phải, bạn bắt đầu nghĩ khá kém về bản thân!
Bạn đánh mất sự tôn trọng dành cho chính mình và cuối cùng, bạn hoàn toàn không thích chính mình.
Tất nhiên, một phần của lòng tự trọng lành mạnh đến từ việc làm điều tốt cho người khác. Thật khó để có lòng tự trọng cao nếu bạn bị coi như là một kẻ ngu xuẩn với mọi người trong cuộc sống của mình!
Nhưng sai lầm của hầu hết những người có lòng tự trọng thấp là cho rằng quan tâm đến nhu cầu và mong muốn của người khác là tất cả những gì họ cần để có lòng tự trọng:
Họ chọn một con đường sự nghiệp danh giá bởi vì xã hội (hoặc cha mẹ của họ) ngưỡng mộ nó.
Họ chọn kết hôn với một người vì họ biết gia đình họ sẽ chấp thuận.
Họ gánh vác quá nhiều trách nhiệm trong công việc vì muốn trở thành một nhân viên giỏi và gây ấn tượng với sếp.
Nhưng hãy nhớ lấy điều đó từ tôi — một nhà tâm lý học nói chuyện với những người không hạnh phúc mỗi ngày — nói với mọi người: khi bạn ưu tiên những mong muốn và nhu cầu của người khác hơn chính bạn thì sự bất hạnh và lòng tự trọng thấp của bản thân chắc chắn sẽ theo sau.
Mặt khác…
Lòng tự trọng thực sự đến từ việc cân bằng giữa mong muốn và nhu cầu của người khác với mong muốn và nhu cầu của bản thân.
Nếu bạn không có nền tảng vững chắc về việc giữ lời hứa với bản thân, thì tất cả sự hy sinh cao cả trên thế giới này sẽ không khiến bạn thích bản thân hơn.
Giải quyết những mong muốn và nhu cầu của riêng bạn không có nghĩa là bạn ích kỷ hay là một người tự ái hay một kẻ cuồng bản ngã. Đó chỉ là tâm lý cơ bản: Để cảm thấy hài lòng về bản thân và có ích với người khác, bạn phải đảm bảo rằng bạn đang đổ nhiên liệu vào bình của chính mình. Và một trong những cách tốt nhất để làm điều đó là giữ lời hứa với chính mình.
“Một khi chúng ta tin tưởng vào bản thân, chúng ta có thể mạo hiểm với sự tò mò, ngạc nhiên, thích thú tự phát hoặc bất kỳ trải nghiệm nào bộc lộ tinh thần con người.”
– E.E. Cummings
2. Dành nhiều thời gian hơn cho những người bạn yêu thích
Jim Rohn đã nói câu nói nổi tiếng:
Bạn là trung bình của năm người mà bạn dành nhiều thời gian nhất.
Điều này thường được hiểu theo nghĩa thành công, năng suất và tham vọng: Nếu bạn ở chung với những người lười biếng, không có động lực, điều đó sẽ tạo ra tác dụng tiêu cực cho bạn.
Điều mọi người bỏ lỡ về câu trích dẫn này là nó không chỉ áp dụng cho thành công và thành tích…
Những người mà bạn thường xuyên dành thời gian cũng ảnh hưởng đến sức khỏe và lòng tự trọng của bạn.
Nếu bạn liên tục gặp gỡ những người không đặc biệt thích bạn, điều đó sẽ bị ảnh hưởng và bạn sẽ khó thích bản thân hơn. Mặt khác, nếu bạn dành nhiều thời gian với những người thực sự thích bạn và thích dành thời gian cho bạn, thì việc thích bản thân bạn sẽ dễ dàng hơn nhiều.
Ở một cấp độ, điều này có vẻ hiển nhiên: Hãy dành nhiều thời gian hơn cho những người mà bạn thực sự yêu thích! Nhưng điều này có thể là một điều khó thực hiện đáng ngạc nhiên vì những ham muốn cạnh tranh thường cản trở.
Ví dụ, trong khi nhiều người thích ý tưởng ở gần những người mà họ thực sự thích, họ cũng thích ý tưởng ở xung quanh những người sẽ nâng cao vị thế xã hội của họ. Và đa phần thì mong muốn thứ hai sẽ ưu tiên hơn mong muốn thứ nhất:
Thay vì đi ăn tối và xem phim với người bạn thân từ thời trung học, bạn tham dự bữa tiệc tối với một đồng nghiệp có thể nói tốt về bạn với các đối tác tại công ty.
Thay vì tham gia câu lạc bộ sách tiểu thuyết bí ẩn tối thứ Ba mà bạn rất hào hứng, bạn tham gia gặp gỡ khách hàng vào tối thứ Ba, một nhóm mà bạn không bận tâm nhưng cũng không đặc biệt thích.
Nếu bạn thấy mình thường xuyên dành thời gian cho những người mà bạn không thực sự thích, hãy dành một chút thời gian để xem xét lý do tại sao lại như vậy. Động lực nào khiến bạn làm điều này? Áp lực xã hội? Tham vọng? Nỗi sợ?
Sau đó, hãy thử thử nghiệm theo những cách rất nhỏ với việc dành nhiều thời gian hơn cho những người mà bạn thực sự yêu thích: Gửi email cho các đồng nghiệp của bạn để họ biết rằng bạn sẽ không thể tham gia tuần này và thay vào đó hãy uống cà phê với người bạn thân nhất của bạn. Nhắn tin cho một người bạn cũ và ăn trưa với họ thay vì đồng nghiệp.
Hãy dành thêm một chút thời gian với những người bạn yêu thích và những người thích bạn trở lại và bạn có thể bắt đầu thích thú với chính mình.
“Ngay khi bạn tin tưởng vào chính mình, bạn sẽ biết cách sống”.
– Johann Wolfgang von Goethe
3. Sử dụng lời độc thoại nhẹ nhàng
Tôi nghĩ rằng tất cả chúng ta đều có những người trong cuộc sống của mình, những người chỉ trích, tiêu cực và đôi khi, chỉ đơn giản là:
Có thể người quản lý của bạn tại nơi làm việc luôn chỉ trích hiệu suất của bạn và so sánh bạn với những đồng nghiệp khác.
Hoặc có thể đó là người bạn đời thường xuyên mỉa mai và phán xét về mọi thứ, từ lựa chọn tủ quần áo đến phong cách nuôi dạy con cái của bạn.
Nếu bạn có một hoặc hai trong số những người này trong đời, bạn sẽ biết cảm giác khó khăn và mệt mỏi khi ở xung quanh họ. Như thể chúng hút hết sinh lực và năng lượng trong tâm hồn bạn, khiến bạn căng thẳng, chán nản và trống rỗng.
Trớ trêu thay, chúng ta không thích khi người khác ác ý với chúng ta, nhưng chúng ta lại ác ý với chính mình một cách lạ thường!
Và lúc này chúng ta thường bắt đầu lựa chọn giải pháp đó là… tự nói với bản thân một cách tiêu cực.
Nếu bạn phải tự đấu tranh với lòng tự trọng thấp, thì rất có thể tiếng nói bên trong của bạn sẽ nói rằng bạn là một kẻ ngu ngốc. Đó là sự khắc nghiệt, hay phán xét, chỉ trích thái quá, bi quan và đôi khi hết sức tàn nhẫn như:
Bạn trình chiếu slide cuối cùng trong bài thuyết trình của mình tại nơi làm việc và ngay lập tức giọng nói bên trong truyền đến bạn: Tôi thật là một thằng ngốc! Tôi luôn luôn làm hỏng một cái gì đó. Tôi biết lẽ ra tôi không nên đồng ý dẫn dắt buổi thuyết trình cho nhóm.
Bạn quên trao cho con mình một nụ hôn khi đưa cô bé ấy đến trường và khi bạn vừa ra khỏi bãi đậu xe, giọng nói bên trong của bạn bắt đầu mắng mỏ bạn: Ôi trời, tôi thậm chí còn không dành cho cô bé ấy một nụ hôn tạm biệt. Con bé sẽ rất buồn … Tôi có lẽ là người mẹ duy nhất ở trường quên hôn tạm biệt con họ. Có lẽ tôi thực sự chỉ là một người mẹ tồi?
Bây giờ, đây là điều bạn thực sự cần hiểu về cách tự nói chuyện quá tiêu cực của mình: Ngay cả khi bạn hiểu về mặt trí tuệ rằng việc nói theo cách đó với chính mình là không chính xác hoặc có giá trị gì, bạn vẫn sẽ cảm thấy đau khổ nếu bạn tiếp tục làm điều đó .
Tự sự là một hành vi. Chúng ta vẫn hay làm điều đó. Và đôi khi, đó là điều chúng ta làm thường xuyên đến mức trở thành thói quen.
Nếu bạn thường xuyên tàn nhẫn với chính mình, bạn sẽ có cảm giác giống như thể một người khác thường xuyên tàn nhẫn với bạn.
Cách tốt nhất để xóa bỏ thói quen tự nói chuyện quá tiêu cực là tập trung vào một ý tưởng đơn giản: sự nhẹ nhàng.
Hãy thử bắt gặp bản thân đang nói một cách nghiêm khắc hoặc khắc nghiệt với bản thân và tự hỏi: Có cách nào nhẹ nhàng hơn để nói chuyện với bản thân không?
Thay vì: Tôi thật là một thằng ngốc! Hãy thử: Chà, tôi đã làm sai phần cuối cùng của bài thuyết trình, nhưng nhìn chung thì nó diễn ra khá tốt.
Thay vì: Tại sao tôi luôn lười biếng như vậy ?! Hãy thử: Tôi tự hỏi liệu tôi có thể sử dụng chiến lược nào khác để tập luyện ổn định hơn không?
Bạn sẽ không thể làm bạn với một người thường xuyên hạ thấp bạn, vì vậy không có gì ngạc nhiên khi bạn không thích bản thân mình cho lắm khi liên tục hạ thấp bản thân.
Hãy nhẹ nhàng với bản thân và bạn sẽ thấy thích bản thân mình dễ dàng hơn rất nhiều.
“Điều tuyệt vời nhất trên thế giới là biết cách thuộc về chính mình.”
– Michel de Montaigne
4. Làm rõ giá trị của bạn
Cuối cùng, lòng tự trọng lành mạnh đến từ việc bạn sống cuộc sống của bạn theo cách phù hợp với các giá trị của bạn.
Mặt khác, nếu bạn có thói quen thỏa hiệp các giá trị của mình trong cách bạn suy nghĩ và hành động, bạn đang tự tạo cho mình lòng tự trọng thấp.
Ví dụ:
Bạn đã có kế hoạch tập thể dục thường xuyên hơn chưa? Mỗi khi bạn hoàn thành mục tiêu đó, bạn đang huấn luyện bộ não của chính mình để tin rằng bạn là người đáng tin cậy, là kiểu người làm theo những gì bạn nói.
Nhưng mỗi khi bạn quên hoặc quyết định ở trên ghế xem Youtube, Netflix sau một ngày dài làm việc, bạn đang dạy cho bộ não của mình rằng bạn không đáng tin cậy, rằng bạn không thực sự quan tâm đến những gì bạn đã từng tuyên bố, hứa hẹn. Đây là một lý do, công thức cho lòng tự trọng thấp.
Tất nhiên, việc tuân theo những ý định và cam kết tốt nhất của chúng ta đối với bản thân không phải là điều dễ dàng. Và một trong những lý do lớn nhất mà mọi người đấu tranh để làm điều đó là vì giá trị của nó không rõ ràng và thực sự hấp dẫn.
Có những giá trị rõ ràng nghĩa là bạn có một tầm nhìn rõ ràng về những điều quan trọng nhất đối với bạn.
Thuật ngữ giá trị bao gồm mọi thứ từ những đức tính truyền thống như trung thực và liêm chính cho đến những cam kết bình thường hơn nhưng vẫn quan trọng như duy trì sức khỏe thể chất của bạn thông qua tập thể dục hoặc dành thời gian chất lượng với những người bạn tốt.
Tuy nhiên, đây là lợi ích:
Khi các giá trị của bạn không rõ ràng, sẽ không có động lực cho lắm.
Mặt khác, giá trị của chúng ta càng rõ ràng, cụ thể và hấp dẫn, chúng ta càng bị thu hút bởi chúng, giống như lực hấp dẫn. Và khi các giá trị của chúng ta tác động nhiều hơn đến chúng ta, thì việc hành động theo một cách phù hợp với chúng sẽ trở nên dễ dàng hơn, từ đó tạo ra lòng tự trọng cao.
Tất nhiên, việc làm rõ các giá trị của bạn không phải là việc bạn chỉ làm một lần rồi làm xong… Làm rõ các giá trị của bạn có nghĩa là xây dựng thói quen phản ánh chúng thường xuyên.
Một khi bạn biết các giá trị của mình và bắt đầu điều chỉnh suy nghĩ và hành động của mình với chúng, lòng tự trọng lành mạnh sẽ không còn xa nữa.
“Tôi thích sống thật với bản thân mình, ngay cả khi có nguy cơ bị người khác chế giễu, hơn là giả dối và gánh chịu sự ghê tởm của chính mình.”
Hiện nay, người trẻ ở Israel rất ngưỡng mộ và học theo Sam Altman. Và rất nhiều người thực sự cất cánh (khai phóng được năng lực bị kìm hãm do thiếu minh triết)
Sam Altman là một triệu phú người Mỹ gốc Do Thái, nổi tiếng với những khoản đầu tư vào các dự án khởi nghiệp như Airbnb và Dropbox, mới đây đã chia sẻ về bí quyết thành công của mình. Việc Altman chia sẻ bí quyết thành công là một điều mới lạ với công chúng vì xưa nay ông ấy luôn tỏ ra là một người kín tiếng.
Tỷ phú do thái Sam Altman
Cựu sinh viên xuất sắc của trường đại học danh tiếng Stanford đã quyết định từ sớm rằng việc tự tìm tòi học hỏi và trực tiếp làm việc sẽ hiệu quả hơn là tiếp thu thụ động kiến thức từ giảng đường, và do đó đã thực hành một lối sống khá độc lập và khác người. Công chúng biết đến Altman chủ yếu là qua trang blog cá nhân của ông, vốn thường đăng những chiêm nghiệm rất sâu sắc và thú vị về cuộc sống, công nghệ và kinh doanh.
Bài blog gần đây của Altman về bí quyết thành công là kết quả của một quá trình suy tư lâu dài, cũng như ông ấy nói đó là muốn làm một điều gì đó thực sự có ý nghĩa cho mọi người. Bài blog ghi nhận hơn 700,000 lượt xem trên trang web cá nhân của Altman, chưa kể hàng vạn lượt re-up trên các mạng xã hội Twitter và Facebook. Sau đây là 13 lời khuyên của ông:
1. Lãi suất kép
Khi đầu tư vào quỹ tiết kiệm của ngân hàng, bạn luôn nhận được lời khuyên đừng rút tiền ra vội mà hãy để phần lãi cũ được tái đầu tư để sinh ra lãi mới, và cứ như vậy tốc độ và tầm vóc khoản tiền tiết kiệm đó sẽ ngày một khổng lồ trong thời gian ngày càng ngắn hơn. Trong mọi mặt của cuộc sống cũng như vậy, hãy tìm tới những công việc cho phép bạn càng về sau càng phát triển hơn trước, công việc cho phép bạn làm 10 năm sẽ có năng suất gấp nhiều hơn 10 lần người chỉ làm một năm. Quản lý, kinh doanh, ứng dụng công nghệ, làm thương hiệu, đầu tư là những ngành như vậy. Mặt khác cũng có những ngành nghề chỉ cho phép bạn phát triển tới một mức nhất định theo từng nấc định sẵn, những nghề nghiệp như vậy rất ổn định nhưng sẽ không giúp bạn thành công vượt trội.
2. Hãy tự tin
Tự tin là cá tính không thể thiếu của những cá nhân thành công vượt trội. Khi thời gian trôi đi và bạn nhận thấy những phán đoán của mình ngày một chính xác hơn, hãy dựa vào đó và tin tưởng bản thân trong các hoàn cảnh tương lai. Luôn giữ vững nhuệ khí của chính mình, và tiếp đó là của đội nhóm, một đội ngũ tự tin ngay cả trong nghịch cảnh là một lực lượng đáng gờm. Khi Elon Musk dắt tôi đi thăm nhà máy SpaceX của ông ấy một vài năm trước và luyên thuyên một cách đầy tự tin rằng ông ấy sẽ đưa con người lên sao hoả, tôi nhìn vào đó và lấy ông ấy làm tiêu chuẩn để lượng giá bản lĩnh của mình. Đi ngược lại đám đông cũng là cách để tránh khỏi cạnh tranh không cần thiết.
3. Tập suy nghĩ độc lập
Khởi nghiệp là một điều trường học không thể dạy bạn, ngược lại họ tưởng thưởng cho sự đi theo lề lối và phương pháp đã có sẵn. Nếu bạn muốn khởi nghiệp, phải có một chút ngược đời, nhưng không phải là sự ngược đời vì ghét đám đông, mà là bởi vì bạn có một niềm tin riêng của mình về cái gì là đúng. Bắt đầu bằng những nguyên tắc luôn đúng, sau đó tự sáng tạo ra các ý tưởng dựa trên nguyên tắc đó, đem nó ra bàn thảo với đội ngũ của mình, rồi tìm ra cách nào đó thật nhanh và rẻ để kiểm tra độ hiệu quả của nó trong thực tế. Tôi sẽ thất bại nhỏ rất nhiều lần, và thành công một lần nhưng rất vang dội. Một trong những bài học lớn nhất mà tôi rút ra được đó là, mọi vấn đề dù có khó đến đâu, cũng đều có cách giải quyết, chỉ cần bạn tự suy nghĩ, thử sai, và kiên trì thêm một chút nữa thôi.
4. Bạn phải biết bán hàng
Nhiều công việc không bao gồm kỹ năng bán hàng, đó là các công việc lặp đi lặp lại và ai cũng làm giống như nhau đến mức không có gì khác biệt để mà đem ra bán. Muốn thành công bạn phải làm khác đi, phải có tầm nhìn gây ảnh hưởng, khả năng giao tiếp tốt để truyền đạt tầm nhìn đó cho khách hàng tiềm năng, sự duyên dáng và bằng chứng thuyết phục.
Nếu bạn có tầm nhìn rõ ràng và khả năng giao tiếp mô tả chính xác thì bạn sẽ nhận được giá trị gia tăng. Và phải nhớ bạn đi cung cấp giá trị, một giá trị mới mẻ khác lạ và ít người làm như vậy trước đây, nên nó đòi hỏi bạn phải giải thích cho khách hàng hiểu, nhưng không phải là bạn bịa đặt ra những điều không có thật.
5. Tạo điều kiện để dễ chấp nhận rủi ro
Rủi ro là cần thiết, đằng sau rủi ro là phần thưởng, không chỉ về mặt tài chính mà còn là sự thoả mãn tâm hồn. Bạn cần phải đảm bảo các nhu cầu thiết yếu của mình đã được an toàn, từ đó bạn có thể rảnh tay lao vào các thử thách thú vị hơn. Tuy nhiên, cũng đừng tích trữ quá nhiều những vật ngoài thân không cần thiết. Nhu cầu con người thật ra rất đơn giản, ngoài sức khoẻ của mình và người thân, một môi trường sinh sống, học tập văn minh hiện đại, thì chúng ta thật ra không còn cần thêm gì nữa. Tự trói buộc mình vào danh tiếng, địa vị sẽ làm giới hạn khả năng khám phá điều mới.
6. Tập trung
Đa số mọi người làm rất nhiều việc không quan trọng. Lẽ ra họ nên dành thời gian để dừng lại suy nghĩ xem việc gì cần làm và việc gì nên để người khác làm. Khi đã hiểu rõ thứ tự ưu tiên đầu việc chiến lược, tập trung tất cả sức lực để chốt hạ cho xong chúng. Làm một số việc quan trọng thật nhanh và xuất sắc là đặc điểm của người thành công.
7. Lao động cật lực
Làm việc thông minh có thể đưa bạn đến một ngưỡng nhất định, làm việc chăm chỉ cũng sẽ giúp bạn theo cách tương tự. Nhưng để thành công, bạn cần cả hai, phải suy nghĩ tận cùng và phải làm việc hết mình. Lao động cật lực sẽ làm bạn phải đánh đổi nhiều thứ khác, cho nên hãy quyết định cho kỹ điều gì là quan trọng trong đời bạn, như tôi đã nói ở trên, số lượng những điều quan trọng trong cuộc đời mỗi chúng ta thật ra khá ít, hãy đánh đổi những thứ khác không cần thiết như cắt bỏ mỡ thừa và chú tâm vào lao động cật lực. Một điều nữa, để tránh kiệt sức vì lao động cật lực, bạn cần chọn công việc mà bạn yêu, được làm cùng với những người mà bạn thích trong suốt một thời gian dài.
8. Dũng cảm
Thành công nhờ làm điều lớn lao dễ hơn nhờ làm điều vụn vặt. Đó là bởi vì những công việc thú vị dễ gây hứng thú và nhận được nhiều sự trợ giúp hơn. Đừng sợ làm những điều bạn thực sự muốn làm, dù nó có vẻ khó hơn là làm những điều bạn không thực sự muốn làm nhưng dễ làm. Làm điều bạn thực sự thích sẽ kích hoạt adrenaline trong bạn và trong cả những người theo dõi bạn, và bạn sẽ nhận ra khả năng của mình lớn hơn nhiều so với trước đây.
9. Ý chí
Tôi chưa từng thấy người thành công bi quan nào cả. Để thành công bạn cần tin rằng mọi thứ rồi sẽ tốt đẹp, mọi khó khăn sẽ kết thúc và ngày vinh quang sẽ soi sáng tâm hồn bạn. Nghi hoặc, bỏ cuộc, nản lòng là mẫu số chung của đa số. Nếu bạn có thể tâm niệm, tôi sẽ cố gắng đến cùng cho đến bao giờ thành công mới thôi, dẫu có gian nan nhưng tôi sẽ tìm ra bằng được cách để vượt qua, thì rồi bạn sẽ thành công.
10. Trở nên đặc biệt và không ai cạnh tranh được
Mọi người đều biết các công ty thành công nhất là những công ty có giá trị khác biệt và làm cho sự cạnh tranh với họ trở nên rất khó khăn. Nhưng ít ai nhận ra điều này cũng đúng ở cấp độ cá nhân. Nếu bạn chỉ bắt chước bất kì ai bạn gặp thì rồi người ta cũng sẽ làm y như bạn và bạn sẽ bị cạnh tranh khốc liệt. Hãy khác biệt, có nhiều cách: xây dựng một mối quan hệ cá nhân sâu sắc, xây dựng thương hiệu cá nhân đầy cá tính, học nhiều chuyên môn khác nhau và tìm cách kết hợp chúng thành một món duy nhất bạn có…
11. Mạng lưới con người
Không ai có thể tự mình làm tất cả mọi thứ. Bạn cần có những người tài năng giúp đỡ ở những mặt bạn còn yếu. Mỗi người đều có điểm mạnh và điểm yếu, bạn cần cải thiện điểm yếu nhưng một khi chúng đã đạt một ngưỡng chấp nhận được bạn cần tập trung phát huy điểm mạnh mà thôi. Và cũng hãy tập nhìn thấy điểm mạnh của người khác, ngay cả khi chính họ còn không nhìn ra. Đặt họ vào vị trí phù hợp nhất, thúc đẩy họ vượt lên và giúp đỡ khi họ gặp khó khăn. Chắc chắn mọi người sẽ cảm ơn bạn và không ngại giúp bạn đạt được điều tương tự. Đó cũng là một điều quan trọng, đừng ngại phải nhận sự giúp đỡ từ một người đỡ đầu tài năng, bạn cần họ để phát triển, ngược lại hãy đem lòng tốt của họ ra phát tán đi ngày một nhiều hơn nữa.
12. Bạn cần sở hữu tài sản
Từ nhỏ tôi đã có một ngộ nhận mà tôi chắc ai cũng như vậy, đó là người ta giàu vì nhận lương cao. Thật ra trừ một số ngành nghề nhất định, như ngành showbiz và giải trí, còn lại không một ai trong danh sách Forbes trở nên giàu có nhờ lương cao cả. Bạn trở nên giàu có bằng cách đầu tư vào các tài sản ngày càng gia tăng về giá trị, đó có thể là cổ phần trong doanh nghiệp, bất động sản, tài nguyên thiên nhiên, sở hữu trí tuệ, hoặc cái gì đó tương tự. Quan trọng là bạn cần sở hữu gì đó thay vì chỉ bán đi sức khoẻ và thời gian của mình.
13. Động lực bên trong
Đa phần mọi người lấy động lực từ bên ngoài, họ làm mọi việc để gây ấn tượng với người khác. Đây là một sai lầm vì ít nhất hai lý do:
Thứ nhất, để làm vừa lòng nhiều người, bạn cần làm những điều mọi người đều đã đồng thuận, việc này khiến giá trị bạn tạo ra không có gì đặc sắc, và người khác cũng dễ dàng bắt chước làm ra sản phẩm y như bạn.
Thứ hai, bạn sẽ dễ lao vào các cuộc ganh đua không có ý nghĩa. Tư tưởng phải bằng bạn bằng bè sẽ khiến bạn chỉ cố gắng đầu tư vào những khía cạnh so sánh được với người khác. Trong khi đó một động lực đến từ bên trong sẽ giúp bạn phát triển những giá trị không so sánh được, khác biệt hoàn toàn, và xuất phát thuần từ lăng kính bản thể tự nhiên độc nhất vô nhị là bạn.
Hãy làm điều bạn thích và cho là quan trọng dù nó có vẻ không phải thứ mọi người thường hay mong đợi, kết quả của bạn có thể trở nên đặc sắc và gây ấn tượng lớn. Còn nếu nó không đem lại phản ứng tốt ư, chẳng sao cả, hãy tiếp tục dự án tiếp theo.
Những việc trên đời, nếu nói tóm, thì có 3 cấp độ khó như sau:
Dễ nhất, là những việc không đòi hỏi tư duy gì nhiều, như là trông giữ xe. Bạn và tôi chỉ cần vác xác đến và làm thôi, đừng thắc mắc gì cả.
Khó, là những việc như phóng phi thuyền lên mặt trăng vậy: phải huy động hàng tỷ đô-la, hàng trăm nghìn con người cùng chung sức để hướng đến một mục tiêu vĩ đại.
Việc khó nhất trên đời, là sống một cuộc đời thật ý nghĩa.
Phóng phi thuyền lên mặt trăng, tưởng chừng rất khó, nhưng nếu bạn có đủ công thức, vật chất, con người (có thể thuê nếu không muốn đào tạo nguồn nhân lực),… thì bất cứ ai cũng có thể phóng được phi thuyền lên mặt trăng. Và hiện nay, có một công ty tư nhân Israel chỉ tốn 100 triệu đô (so với 175 tỷ đô mà Mỹ đầu tư cho chương trình Apolo vào thập niên 60) để phóng tàu vũ trụ (Beresheet) lên mặt trăng, dù kết quả là họ đã thất bại ở khâu cuối cùng – đáp lên bề mặt, nhưng điều này cho thấy, giấc mơ từng là viển vông, từng một thời là cuộc đua của các siêu cường, nay đã ngày càng trở nên khả thi dù chỉ với nguồn lực ít ỏi.
Phóng phi thuyền lên mặt trăng, tưởng khó, nhưng hóa ra lại dễ: đây chỉ là vấn đề máy móc, công thức, khách quan, sao chép được.
Sống một cuộc sống thật ý nghĩa, sống sao cho đạt hết sự mong muốn của ta, đều là những công cuộc đã được biết bao nhiêu bộ óc thông tuệ nhất trong lịch sử suy tư, lên công thức, thực hành thử, và… thất bại: bởi đây là vấn đề rất “con người”, rất riêng tư, không thể lấy một công thức áp dụng cho mọi hoàn cảnh, mọi cá nhân được.
Mở bài như thế, là tôi muốn gửi gắm đến bạn đọc rằng, vấn đề chúng ta đang đối diện đây – “thay đổi bản thân” – là một vấn đề rất khó khăn, khó còn hơn phóng phi thuyền lên mặt trăng, thế nên rất cần một thái độ tiếp cận đúng đắn: bạn đọc sẽ cần kiên nhẫn với bài này, và với cả quá trình thay đổi bản thân của chính bạn.
2. Cấu trúc của bài
Bài viết sẽ bao gồm các ý nhỏ, đánh số liền mạch, trong các ý lớn như sau:
‘Thay đổi’ trong ‘Thay đổi Bản thân’
‘Bản thân’ trong ‘Thay đổi Bản thân’
Thay đổi bản thân: những gợi ý thực tiễn
***
Tâm lý học của sự thay đổi bản thân
Wanderer above the Sea of Fog – Caspar David Friedrich (1818)
3.
Có một sự thật đó là, ai cũng thay đổi cả.
Sẽ có người bảo rằng, “bạn hoàn hảo rồi, không cần thay đổi gì nữa hết”, mà tôi cũng đồng ý một phần, tùy vào cái ngữ cảnh cụ thể của nhận định đấy:
“Đối với anh, em đã hoàn hảo rồi”
“Thôi đừng buồn nữa, đây tặng em 10 triệu”
Thật ra, chỉ có người chết mới không thay đổi thôi; còn sống là ta còn thay đổi, từng giây, từng phút một, cả về mặt vật lý lẫn tâm lý. Vậy nên câu hỏi không phải là ta có thay đổi hay không, mà là ta thay đổi như thế nào.
Ta muốn thay đổi, bởi ta bất mãn với hiện tại: mỗi ngày như mọi ngày, ta cảm thấy cuộc đời ta như bị mắc kẹt, ta chẳng đạt được thành tựu gì, ta nghẹt thở bởi những thứ ta đã có thể trở thành, tiếc nuối cho những cơ hội đã qua; hay ngay cả những thứ ta từng muốn nay cũng đã không còn làm ta thỏa mãn.
Và đến một lúc, ta quyết định: “hây a, mình phải thay đổi!”.
Vậy nếu bạn đã chấp nhận một sự thay đổi là cần thiết trong đời sống của mình, thì đây chúng ta cùng xem xét tiếp.
‘Thay đổi’ trong ‘Thay đổi Bản thân’
4. Ta thực sự muốn gì?
Đó giờ ta muốn thay đổi nhưng thay đổi mãi không được, là bởi ta chưa nghĩ kỹ về điều ta thực sự muốn.
Thường ta mong muốn một công việc tốt hơn, đầu óc ít lo nghĩ hơn, người yêu hiểu mình hơn, tút được nhiều likes hơn, nhiều tiền hơn, tối ưu hóa bản thân hơn… rất nhiều chữ “hơn”.
“Hơn” ở đây, là một chuỗi những cảm xúc tích cực mà ta kỳ vọng rằng ta sẽ có được nếu chúng ta đạt được mục đích, ví dụ như nhiều likes hơn thì ta sẽ cảm thấy thỏa mãn.
5. Phương tiện và Cứu cánh
Thường khi có mong muốn gì đó, ta có xu hướng quên đi, hoặc không nhận ra cứu cánh (mục đích cuối cùng) mà thường chỉ nhắm tới phương tiện: ta lấy phương tiện làm mục đích.
Ví dụ như ta chỉ toàn nghĩ tới likes (phương tiện), nhưng quên mất cái ta muốn thực sự là những cảm xúc thỏa mãn (cứu cánh) khi ta được công nhận, được trân trọng, được lắng nghe,…
Những cảm xúc thỏa mãn thì chắc chắn không chỉ phụ thuộc vô nút likes vốn khá ảo, hời hợt và biến tướng, nếu muốn “được công nhận, được trân trọng, được lắng nghe”, thì ta có thể tìm thấy cảm giác đó trong một cuộc trò chuyện thân tình, hay trong một hoạt động nào đó có ích cho người khác: thế hệ ông bà ta vẫn sống tốt mà không cần mạng xã hội.
6. Cái-ta-muốn sở hữu ngược lại ta
Không ý thức được cái ta thật sự cần, ta sẽ bị phương tiện sở hữu ngược lại mình, khiến tâm lý ta bị phụ thuộc chúng một cách tự động: ta vui-buồn-lo lắng lẫn lộn với điểm số, với thu nhập, với số likes, với biến động của thị trường.
Một lúc nào đó, chúng ta sẽ cảm thấy mắc kẹt với tất cả những phương tiện như vậy, vì chúng quá biến động, trong khi con người lại có xu hướng bảo thủ, thích sự an toàn. Từ cái mong muốn an toàn đó, ta đi tìm một trạng thái mới bớt phụ thuộc vô những phương tiện cạn cợt như vậy: câu hỏi “ta thực sự cần gì” được đặt ra, và là câu hỏi quan trọng, vì khi nhận rõ cứu cánh, ta sẽ bớt nô lệ vào phương tiện.
Tới đây, ta có kết luận đầu tiên: Thay đổi để có cảm giác thỏa mãn, chứ không phải thay đổi vì phương tiện.
Công thức: Thay đổi –> phương tiện (likes, tiền, danh, sắc,…) –> cảm giác thỏa mãn
7. Mắc kẹt với thỏa mãn
Ở đây chúng ta dấy lên một câu hỏi khá thú vị đó là: nếu cuộc đời cái gì cũng thỏa mãn, cũng như ý ta cả, thì chẳng phải sống thế chán lắm sao?
Vấn đề này đến từ chỗ con người dễ nhàm chán với những thứ lặp lại, cho dù chúng là thứ mà ta hằng mong muốn. Ngay cả những con nghiện ma túy, họ cũng không hài lòng với chỉ liều lượng đó, họ phải “tăng đô”, vì cơ thể ta cơ bản là luôn vậy: nó quen với một “bình thường mới”, nó đòi hỏi sự thay đổi.
Ở đây ta sẽ cần một chút mô hình để dễ hình dung:
00000: bình thường, tâm trí đòi kích thích
00100: 1 chính là kích thích, ta thấy thỏa mãn
11111: bình thường mới, tâm trí đòi kích thích mới
12111: 2 xuất hiện như là một kích thích mới, ta thấy thỏa mãn
22222: bình thường mới, tâm trí “lại đòi” kích thích mới. (Cứ thế lặp lại).
Cái mong muốn “thay đổi bản thân” chính là cái mong muốn biến đổi 00000 thành 00100, 11111 thành 12111: cơ bản là ta không thể ở yên một chỗ được, như con nít vậy, ta luôn tìm gì đó để kích thích tâm trí ta.
8. Kích thích không chỉ có vui sướng
Cái gọi là kích thích mới, nó không phải chỉ toàn là cảm xúc tích cực như vui-sướng-phê-tự hào, mà nó sẽ đa dạng cảm xúc: ví dụ như bạn đi tập thể dục, bạn sẽ thấy hơi mệt, thậm chí khó chịu, đau đớn – đây không thể là cảm xúc tích cực được, nhưng cuối cùng bạn lại thấy thỏa mãn.
Đó là lý do cho việc chúng ta thường được khích lệ đức tính hy sinh, “khổ trước sướng sau”, hay “hãy theo đuổi ý nghĩa, đừng theo đuổi hạnh phúc”: chúng ta muốn có đủ vui-buồn-sướng-khổ trong đời sống ta.
Kích thích mới do vậy cũng bao gồm cả những cảm giác tiêu cực như sợ hãi, lo âu nữa; ngay cả đau khổ, cũng là một thứ cảm xúc người ta mong muốn mà người ta không nhận ra.
Muốn đau khổ ư? Ai lại muốn được đau khổ?
9. Nghiện sự đau khổ
Có một câu tục ngữ đó là “Dạy vợ từ thuở bơ vơ mới về” mà bản thân tôi cũng từng trải nghiệm ngoài đời, khi thằng bạn tôi kể lại với tôi cách nó nhìn nhận phụ nữ: tức là nếu vợ nó mà trái ý, thì nên tát cho vài bạt tai, để sau này không hư hỏng, đua đòi, từ đó vợ sẽ ngoan, gia đình đầm ấm.
Sau này khi tìm hiểu về nạn bạo hành gia đình, tôi mới nhận ra là rất nhiều người phụ nữ thích cảm giác bị bạo hành về cả ngôn ngữ lẫn tay chân như vậy mà không ý thức được, họ sẽ chối rằng không thích bị bạo hành, nhưng đến khi gặp một trai ngoan, bình tĩnh chững chạc, họ lại cảm thấy xa lạ trong mối quan hệ đó, họ làm mọi cách để kích giận người đàn ông, mong muốn sự phản ứng của anh ta, bởi người đàn ông bạo hành sẽ tạo cảm giác quen thuộc, bao bọc như người bố thuở xưa đã từng đánh đòn, chửi mắng họ: Thế là chúng ta vẫn còn mắc nợ với tuổi thơ quá nhiều.
“Dạy vợ từ thuở bơ vơ” trở thành “tục ngữ”, công cụ thao túng tâm lý của đàn ông gia trưởng, cũng bởi tính hiệu quả biết bao đời nay trong cái nền văn hóa dung túng nó.
Do vậy, cả trong vô thức lẫn hữu thức, ta sẽ mong muốn sự trải nghiệm một cách sống động, không phân biệt sướng-khổ, phỏng theo cái nết tâm lý mang tính cá nhân riêng tư của ta.
Tới đây, ta phải thay đổi một chút công thức ở đoạn 6, đó là: Thay đổi để tìm kích thích mới mẻ, tìm cái trải nghiệm sống động vốn không chỉ toàn cảm xúc tích cực.
Công thức: Thay đổi –> cảm giác thỏa mãn –> trải nghiệm sống động
10. Kỳ vọng dẫn đến thất vọng
Khi tâm trí ta đã dự định, trù liệu (project) trước cái trải nghiệm, tức có kỳ vọng, thì cái trải nghiệm đó không còn mới mẻ và sống động nữa: đây chính là cơ cấu tâm lý của châm ngôn “kỳ vọng sẽ dẫn đến thất vọng”.
Cái mới mẻ, phải là cái gì mà ta không lường trước được, ta không lên kế hoạch cho nó, không kỳ vọng nó.
Ví dụ, đối với tôi, chuyện viết là một cái trải nghiệm sống động, bao gồm vui-buồn-sướng-khổ, nhưng nhiều lúc vì tôi kỳ vọng rằng viết sẽ đem lại những cảm xúc đó cho tôi, cho nên đến một lúc, tôi thấy viết trở nên xa lạ, tôi không còn cảm xúc gì với nó, tôi muốn nó khiến tôi bối rối cũng không được, nó ngay đây trước mắt tôi mà cứ như xa xăm vạn dặm: Cái kỳ vọng đã làm tôi thất vọng.
Kỳ vọng dễ dẫn đến thất vọng, bởi khi kỳ vọng là ta đang dùng tâm trí cũ để ứng đáp với một trải nghiệm mới mẻ.
Giải pháp của tôi đó là, tôi rời bỏ việc viết một thời gian, quên nó luôn, và để cảm hứng trở lại với tôi một cách tự nhiên không kỳ vọng. Đây cũng là cách nhiều vĩ nhân trong quá khứ từng làm, khi tôi đọc tiểu sử về họ: họ có nhiều mối quan tâm khác nhau, nhiều khoảng thời gian thư giãn hoàn toàn, để sau đó tâm trí có thể trở lại với vấn đề một cách mới mẻ, toàn diện.
11. Thay đổi vì bản thân sự thay đổi, hay thay đổi một cách tự nhiên
Cho nên, thay đổi rất nhất thiết là cần xảy ra một cách tự nhiên, như một đứa bé chạy ra ngoài sân chơi vô tư không kỳ vọng vậy, chúng chẳng có mong muốn “tối ưu hóa bản thân”; hoặc như những bộ lạc nguyên thủy chưa tiếp xúc văn minh hiện đại: họ làm gì cũng tự nhiên tự tại, như cách họ đã sống hàng trăm nghìn năm qua, và hầu như không vật lộn với bệnh tâm lý như người văn minh chúng ta đây.
(Lưu ý thêm là, tôi không có lãng mạn hóa đời sống nguyên thủy. Các cá nhân của bộ lạc thường sống khá tự nhiên, không tự dằn vặt bản thân, vì đời sống họ đơn giản, rõ ràng, mạch lạc. Thêm nữa, nếu một cá nhân vì lý do bẩm sinh khách quan mà bị bệnh tâm lý, khó giao tiếp và kết nối với cộng đồng, thì rất dễ bị coi là quỷ ám và bị giết sớm. Tất nhiên bạn sẽ không muốn hoặc khó có thể trở lại với đời sống bộ lạc nguyên thủy như vậy.)
Đây là sự thay đổi khó nhất: thay đổi một cách tự nhiên không kỳ vọng, không nhằm phục vụ cái tư duy chủ quan, duy ngã (phục vụ cái Tôi) của ta.
Ở đoạn 10, tôi có kể giải pháp của tôi đối với chuyện viết đó là “quên nó đi, rồi cảm hứng tự dưng trở lại một cách tự nhiên không kỳ vọng.” Vậy đối với tôi, viết là một điều tự nhiên, nó đến từ những nhu cầu phỏng theo nết tâm lý rất riêng tư của tôi như:
Nhu cầu tìm tòi, khám phá một thứ: Chơi đùa với ý tưởng, tìm cách giải đáp một vấn đề.
Nhu cầu kết nối với người khác: Viết cũng giúp tôi kết nối với người đọc, kể lại điều gì đó hay ho.
Vậy nếu ta cứ có những sự thôi thúc lặp đi lặp lại nhiều lần như vậy, hẳn đó sẽ là xu hướng tự nhiên của ta; và sống một cách tự nhiên, sống “đúng” với chính mình ( miễn không ảnh hưởng người khác), cũng có thể là một gợi ý hay cho vấn đề thay đổi một cách tự nhiên.
Công thức: thay đổi –> cảm giác thỏa mãn –> trải nghiệm sống động –-> thay đổi
12. Ở đây cần tóm lại quá trình chúng ta đã lập luận:
1) Ta bất mãn, ta muốn thay đổi để có cảm giác thỏa mãn. Đây có thể gọi là theo đuổi hạnh phúc, theo đuổi đam mê.
2) Ta nhận ra sự thỏa mãn cũng rất mau chán, ta muốn thay đổi để có trải nghiệm sống động. Đây gọi là theo đuổi ý nghĩa, đức hy sinh, khổ trước sướng sau.
3) Ta kỳ vọng những trải nghiệm sống động, nhưng cái trải nghiệm sống động mà được trù liệu|phóng chiếu (project) trước thì đã không còn sống động mới mẻ nữa. Đây gọi là kỳ vọng dẫn đến thất vọng.
Tới đây, chúng ta đối diện với vấn đề nan giải cuối cùng, đó là:
Nghịch lý của thay đổi: thay đổi cũng không được, mà không thay đổi cũng không xong.
Thật ra cái nghịch lý đó cũng là điều tự nhiên, vì con người vốn bản chất đã mang trong mình cái mâu thuẫn đó là: vừa muốn thay đổi, trải nghiệm mới lạ, lại vừa muốn an toàn, quen thuộc.
Cái khó đó là xã hội hiện đại ngày nay đã làm trầm trọng thêm cái mâu thuẫn đó, cho nên mỗi người rất cần tự mình tìm lấy một lối đi phù hợp cho riêng mình để hóa giải cái mâu thuẫn này.
Và để tìm thấy lối đi đó, phải chăng chúng ta sẽ cần hiểu hơn cái chủ thể của sự thay đổi, tức “bản thân” trong “thay đổi bản thân”?
‘Bản thân’ trong ‘Thay đổi Bản thân’
13.
Mọi mong muốn thay đổi, nếu không có nền tảng của “biết mình” (know yourself), thì đều sẽ rất mong manh, dễ vỡ vụn.
Examining an Arrow – Okada Saburōsuke (1893)
14.
Thông thường, công thức thay đổi chuẩn mà mọi người nghĩ, sẽ như thế này:
1) Bạn nhận rõ năng lực, tính cách, mong muốn của bản thân
2) Bạn đề ra mục tiêu cụ thể, và cố gắng hiện thực hóa mục tiêu đó
3) Thành quả của bạn được xã hội trả công, bạn cảm thấy mình có ích
Thực tế thì chúng ta thường sẽ thất bại, hoặc nếu có, thì cũng sẽ dẫn đến thất vọng, như đã giải thích ở đoạn 4-12 của bài. Chủ yếu vấn đề nằm ở ngay khâu đầu tiên đó là ta thực ra không hiểu ta cho lắm; ta tưởng ta hiểu, nhưng thực sự thì không.
Thế thì, liệu chúng ta có thể biết rõ bản thân hơn được không? Và làm sao?
Có hai ý tưởng khá thú vị đến từ hai vị triết gia lỗi lạc của thế kỷ 20, có thể giúp làm sáng tỏ vấn đề này, là: Ngôn ngữ riêng tư (private language) của L.Wittgenstein (đoạn 15-19), và Bản thể luận của M.Heidegger (đoạn 20-22).
15. Việc mô tả bản thân bằng ngôn ngữ
Nếu tôi yêu cầu bạn mô tả về bản thân, hoặc trình bày sự hiểu bản thân của bạn, thì có phải bạn sẽ diễn đạt bằng ngôn ngữ không?
Con người là loài sinh vật của những văn bản: những câu chuyện ta kể ta nghe, những niềm tin, định kiến ta vịn vào, trong mối quan hệ ta với ta, và ta với xã hội. Bất cứ cái gì bạn cho rằng bạn hiểu bạn, đều sẽ cần thông qua phương tiện là ngôn ngữ.
Nhưng có rất nhiều thứ bạn tưởng tượng trong đầu, đến khi cần ngôn-từ-hóa như nói hoặc viết ra thì chỉ được có chút xíu. Và những cái được ngôn-từ-hóa, chính là ngôn ngữ tập thể – thứ ngôn ngữ chúng ta hay dùng thường ngày.
16. Ngôn ngữ tập thể
Ví dụ như chữ “buồn”, bạn nói bạn buồn với bạn của bạn, nó sẽ bảo là “tao hiểu cảm giác đó”, nhưng đến lúc nói chuyện một hồi, bạn sẽ thấy sự hiểu của nó rất trớt quớt:
“hồi đó tao cũng buồn như mày vậy, nhưng nhờ ra ngoài vườn đếm lá trên cây, tao đã hết buồn, mày cũng nên thử”.
Bất cứ cái gì chúng ta trao đổi với nhau qua ngôn ngữ tập thể, thì ta đều hiểu nhau ở mức độ gọi là đại khái, tương đối, nhưng cuối cùng lại không thật sự hiểu nhau hoàn toàn.
Đó là trao đổi giữa 2 cá nhân với nhau, còn ta dùng ngôn ngữ tập thể để cố gắng hiểu mình thì sao? Tức ta dùng ngôn ngữ hàng ngày để mô tả ta, kết luận ta thế này thế nọ.
Nếu muốn biết, bạn cứ thử viết một bài luận ngắn trình bày quan điểm của bạn, hoặc bạn có thể xem mấy bài quan điểm, tâm sự của người khác trên mạng, là bạn sẽ thấy: Nhiều lúc đọc xong bạn chả hiểu họ viết cái gì.
Và chúng ta cũng thường như vậy khi viết hay trình bày suy nghĩ của ta: ta khó khăn trong việc trình bày mạch lạc, hoặc viết xong ta cũng thấy ta chả hiểu gì, hoặc lúc này hiểu, nhưng một thời gian sau đọc lại thì “chả hiểu tại sao lúc đó mình lại viết như vậy!”.
Đó là bởi “Ngôn ngữ là công cụ của đám đông để hiểu một người.” (Wittgenstein)
Khi bạn nhìn lại ảnh minh họa (đoạn 15), bạn sẽ thấy cái ngôn ngữ thường ngày chỉ có thể biểu đạt rất ít tâm tư, nguyện vọng, cảm xúc riêng tư của ta. Vậy thì liệu phần nhỏ đó có giúp ta hiểu ta một cách trọn vẹn toàn bộ không? Liệu chỉ một góc bức tranh đã đủ để ta thấy trọn cả bức? Hẳn là không.
Đó là lý do bạn sẽ có vẻ hiểu người khác hơn là bạn hiểu chính bạn, bởi khi bạn nghe người khác kể chuyện, ở đó không có những mâu thuẫn nội tâm, không có những sự kiện bị cố tình giấu đi: sự kể chuyện của người khác chỉ đem lại những ấn tượng chung chung, và bạn sẽ dễ hài lòng với những ấn tượng sai lệch đó. Đó là lý do truyện ngôn tình, giả tưởng sẽ vẫn luôn hấp dẫn con người, vì chúng thỏa mãn mong muốn của ta, và đồng thời giúp ta không cần phải tốn não để suy tư sự thật-giả trong câu chuyện đó.
17. Ngôn ngữ riêng tư (private language)
Sau khi chỉ ra cái khó khăn của việc dùng ngôn ngữ tập thể để hiểu bản thân, Wittgenstein đã đặt giả thuyết về một thứ ngôn ngữ riêng tư (private language) để xem liệu ta có thể hiểu bản thân rõ hơn được không, nếu ta dùng công cụ được cá nhân hóa như vậy:
Bạn có một thứ cảm giác đó, đặt tên nó là “buồn” thì không được, vì chắc chắn người ta sẽ hiểu khác, như đã nói ở đoạn 16, và từ “buồn” cũng không diễn tả đúng cảm giác mà bạn đang cảm thấy, thế nên bạn quyết định đặt tên cho cảm giác đó là “YAZ”, một từ chỉ dùng cho chính bạn. Và mỗi lần gặp lại cảm giác đó, bạn sẽ dùng từ “YAZ” để gọi tên nó. Nhưng có vấn đề đó là: lần sau bạn gặp lại cảm giác đó, làm sao bạn biết chính xác rằng cảm giác đó bạn gọi đúng tên nó là “YAZ”?
Để có thể biết chính xác, bạn không thể vịn vào trí nhớ của bạn, mà cần phải có sự xác nhận của người khác (social confirmation).
Ví dụ trong đám đông, bạn có thể chỉ ra một người rằng đó là “Tiến”, vì bạn có quen biết Tiến. Nhưng lỡ cái người đó thật ra tên là Tuấn, vì bạn nhớ nhầm tên thì sao? Bạn sẽ cần sự xác nhận của chính bản thân Tiến, hoặc một người thứ 3 vốn cũng quen biết Tiến.
Có khả năng là người thứ 3 sẽ bảo “mày nhớ lộn rồi, nó tên Tèo”…
Bởi vì ngôn ngữ riêng tư không thể được xác nhận bởi người khác, còn ngôn ngữ tập thể thì chỉ chiếm phần nhỏ trong tư duy và nhiều khả năng khiến cho ta không thật sự hiểu nhau (qua ví dụ từ “buồn”), cho nên có thể kết luận ở đây rằng:
Chúng ta sẽ không thể biết chắc chắn được điều ta biết.
Tới đây, kết luận của phần 16-17 là:
Ngôn ngữ tập thể thì mang tính tương đối, không tin cậy hoàn toàn được.
Ngôn ngữ riêng tư thì không thể tồn tại, vì thiếu sự xác nhận.
18. Tại sao vấn đề ngôn ngữ lại thiết yếu trong việc hiểu bản thân
Thường chúng ta rất mau mắn tự mô tả bản thân mình là thế này, thế nọ; ta dựng lên một hình ảnh về bản thân, rồi ta đề ra mục tiêu, kế hoạch, hành động ứng với cái hình ảnh đó.
Nhưng qua đoạn 16-17, ta có thể thấy rằng khi ta dùng ngôn ngữ tập thể để kết luận mình “là người nhóm ENFP”, “là người thích xã giao”, “là người ham học hỏi”, “là người năng động”, “người biết lắng nghe”, “người cung Song Ngư”,… thì chúng đều thường rất sáo rỗng và vô nghĩa khi ta thực sự đi vào thực tế giao tiếp, học hỏi, giải quyết vấn đề ở hiện tại.
(riêng với các ngôn ngữ mang tính khách quan như “cao 1m69” thì không xét đến ở đây)
Dù sao thì mỗi cá nhân đều có xu hướng tính cách, sở thích, kỹ năng có thể hoặc rõ nét, hoặc mờ mờ vì chúng thường lặp đi lặp lại. Nên chúng ta có thể tạm gắn bản thân mình với chúng, ví dụ như “hướng nội, hướng ngoại”, đồng thời cũng cần ý thức rằng chúng chỉ là tương đối. Dù bạn hướng nội, nhưng sẽ có hoàn cảnh khiến bạn nói nhiều tới mỏi cả mồm.
Nhận ra cái gì là tương đối, tức biết cái ta không biết, là rất quan trọng để hiểu bản thân.
19. Bài học thực tiễn qua phần Ngôn ngữ (15-18)
Sau khi nhận ra tôi thật sự không biết rõ cái tôi biết, thì tôi đánh giá thấp hẳn những suy nghĩ vẩn vơ của ngày đã qua (đặc biệt chuyện liên quan tới người khác), do vậy tôi cũng không ám ảnh với chúng. Nếu cần suy tư, tôi sẽ viết, vì chúng sẽ trông rõ ràng hơn trên mặt giấy, con chữ.
Khi chúng ta không mang gánh nặng của quá khứ, không nuôi dưỡng chúng bằng ngôn từ, diễn giải, phán xét, kết luận, thì tâm trí ta sẽ trống rỗng hơn, nhẹ nhàng và thoải mái hơn rất nhiều trong công cuộc thay đổi bản thân, đón nhận cái mới.
Nhưng nếu ngôn ngữ chỉ là tương đối, thì có cách nào khác để giúp ta hiểu bản thân hơn được không?
Sau khi nhận thấy dùng ngôn ngữ tập thể để hiểu bản thân là không hiệu quả lắm, thì tôi thấy có một cách khác để kết hợp cùng ngôn ngữ, đó là: quan sát, và trải nghiệm.
20. Một món đồ kỳ diệu
Nhân lúc đọc “Being and Time” (Hữu thể và Thời gian) của Heidegger, tôi có biết đến một câu chuyện ngụ ngôn khá hay, xin kể vắn tắt thế này:
“Có anh nông dân kia được vị quý tộc mời tới tòa lâu đài chơi lần đầu. Anh nông dân vô không tìm thấy vị quý tộc, thế là anh đi xung quanh tò mò quan sát mọi thứ. Sau đấy, anh bắt gặp và lụm lên một vật thể bằng kim loại: nó nằm gọn trong lòng bàn tay, bóng loáng như một món trang sức mắc tiền; tiếng kêu của nó rất lạ lùng, có mấy thanh nho nhỏ chuyển động mềm mại; anh mắt không rời, thích thú quan sát nó.
Bỗng vị quý tộc bước vô, bảo “a, tôi tìm cái đồng hồ nãy giờ!”.
Ở câu chuyện trên, ta thấy cái “đồng hồ” đã trở thành một vật quen thuộc với vị quý tộc, nhưng với anh nông dân, nó trở thành một điều kì diệu: anh quan sát nó, cảm nhận nó một cách hoàn toàn, sống động. Cái đồng hồ giống như tự nó đang phơi bày bản thân ra cho anh cảm nhận vậy. Anh và nó bỗng dưng có mối liên kết mật thiết, nó chiếm trọn hết tâm trí anh.
Đối với vị quý tộc, cái đồng hồ đã trở thành danh từ “đồng hồ”, nên không còn được vị quý tộc quan sát ở thì hiện tại sống động nữa. Vị quý tộc chỉ đơn giản là cầm bỏ vô túi, chẳng nghĩ tới nó, lâu lâu lấy ra coi giờ thôi.
Đó là cái đồng hồ, một thứ máy móc. Thế còn bản thân chúng ta – một thứ sinh động, luôn luôn thay đổi, luôn luôn mới mẻ – thì sao? Liệu chúng ta có nên kết luận, dán nhãn ta thế này, thế nọ không?
21. Bản thể luận của Heidegger
Vì đối tượng của bài viết này là cho độc giả không chuyên, nên tôi cũng trình bày một cách uyển chuyển (và hẳn có chút sai lệch) về một quan điểm triết học quan trọng:
Trước Heidegger, triết học phương Tây có truyền thống định nghĩa một thứ là thế này thế nọ. Hai chữ ở đây bạn cần chú ý là: chữ “định nghĩa” và chữ “là”.
“Định” trong “định nghĩa” là gì? Là bắt nó đứng lại (định: đứng yên). Chỉ khi một vật nó đứng yên, thì chúng ta mới có thể cùng nhau quan sát, phân tích, nghiên cứu, trao đổi về nó. Thường chúng ta bắt một vật đứng yên bằng cách trừu tượng nó thành một khái niệm. Và ta sẽ bảo rằng nó “là thế này”, “là thế nọ”.
Khi ta bắt đối tượng đứng lại, thì ta tạo ra một mối quan hệ chủ thể – khách thể:
Michele Butcher, ThăngFly
Nếu bạn liên hệ với phần ngôn ngữ tập thể của Wittgenstein (đoạn 16), bạn sẽ thấy sau khi trao đổi với nhau, hai người trong hình minh họa nếu có đồng thuận gì đó về Pikalong, thì cái đồng thuận đó không còn là Pikalong nữa, mà là Pikalinh hay gì đó khác: Pikalinh là biểu tượng mang tính tương đối cho sự thật Pikalong.
Heidegger đã đặt ra một câu hỏi táo bạo đi ngược lại truyền thống triết học phương Tây, đó là: Thế thì cái đấy (Pikalong) diễn ra như thế nào cho ta?
Tức thay vì đặt vấn đề “IS” (là) (“một thứ là thế này thế nọ”), thì Heidegger đổi sang “HOW” (diễn ra) (“thứ đó diễn ra thế nào cho ta”).
Đây là một cách đặt vấn đề rất quan trọng, vì nhân loại phát triển văn minh đến được hôm nay cũng bởi chúng ta có thể trừu tượng hóa những sự vật hiện tượng, rồi hợp tác với nhau dựa trên các đồng thuận đó (ví dụ: tôn giáo, ngôn ngữ, tiền bạc, tín nhiệm,…). Nhưng điều này tạo ra thế mắc kẹt, đó là chúng ta dần coi trọng biểu tượng hơn sự thật: tức coi trọng Pikalinh hơn Pikalong. Và thái độ này đã dẫn đến việc chúng ta ngày càng xa rời sự thật, tạo nên những bức bối trầm trọng trong cách xã hội vận hành.
Ví dụ, “tình yêu” là một biểu tượng, ai cũng tưởng là mình biết tình yêu là gì, nhưng lại không định nghĩa được tình yêu là gì. Một cô gái nói “anh ấy yêu tôi lắm”, nhưng khi bạn quan sát, bạn lại thấy sự thật đó là anh đấy bạo hành cô ấy. Vậy đó có phải là tình yêu?
Liên hệ vấn đề “biểu tượng – sự thật”, “khách thể – chủ thể” đến bản thân, ta sẽ thấy:
Việc chúng ta có mong muốn “tối ưu hóa bản thân”, hay “làm chủ tâm trí”, hoặc “kết luận bản thân thế này thế nọ bằng ngôn từ”, sẽ đặt ta vào thế “chủ thể – khách thể” đối với bản thân ta, tạo ra mâu thuẫn nội tâm giữa cái ta “đang là” (sự thật) với cái ta “nên là|muốn là” (biểu tượng), từ đấy dẫn đến việc ta mất kết nối với bản thân ta, ta dần trở nên xa lạ với chính ta.
Cách đặt vấn đề cái đấy diễn ra thế nào (how) cho ta của Heidegger, đã đặt con người (chủ thể) và đối tượng (khách thể) vào một mối quan hệ gắn kết, qua lại lẫn nhau, làm mờ đi vai trò chủ thể – khách thể, giống như câu chuyện anh nông dân và chiếc đồng hồ vậy.
22. Vậy “ta diễn ra (how) thế nào cho ta?”
Khi chiêm nghiệm, hồi tưởng, phân tích, đánh giá (ví dụ: ta là này, ta nên thế nọ, ta cần thế kia),… ta đã tách biệt bản thân ra, và soi xét lại ta trong quá khứ, lấy đó làm chất liệu để tưởng tượng ta của tương lai; hai trạng-thái-ta đó không còn là “diễn ra” nữa, mà đó là những ta-xa-lạ: những trạng thái ta-thứ-cấp (secondary states).
Diễn ra, phải ở thì hiện tại.
Chỉ có trong hiện tại, ta mới có thể toàn tâm toàn ý cho công cuộc hiểu bản thân. Đó là lý do bạn thường nghe khuyên rằng “hãy sống như thể hôm nay là ngày cuối cùng bạn được sống”. Bạn có thể tìm thấy trạng thái này trong khi bạn đang say mê một công việc gì đó, bạn chẳng nghĩ gì tới quá khứ và tương lai cả. Hoặc dù khi bạn đang giận dữ, buồn phiền, lo âu,… thì tất cả cảm giác đó, nếu bạn có thể ý thức ngay được, thì đó cũng đã là “hiểu bản thân” rồi: hiểu bản thân không phải là đích đến, không phải là những kết luận, mà là sự ý thức liên tục bạn trong mối tương giao với bản thân, với người khác, và với sự vật hiện tượng (ví dụ tương giao của bạn với game).
Do vậy, cái học tâm lý (khác với cái học cơ giới: ví dụ học lập trình) hiệu quả nhất là trong hiện tại: tức trải nghiệm, thực hành, quan sát bản thân trong hiện tại. (gọi là chánh niệm – mindfulness)
Chúng ta là sinh vật xã hội, đồng thời là sinh vật có mối quan hệ mật thiết với những công cụ, vật thể quanh ta: Một cái bàn – theo Heidgegger diễn giải – không đơn giản chỉ là một cái bàn: nó còn là nơi gia đình ngồi ấm cúng bên nhau, là nơi mà tụi trẻ chơi đùa, nơi mà quyết định quan trọng đó được thông qua, nơi mà tác phẩm ấy được hình hài, nơi của những ngày lễ và hội hè, nơi của những vui buồn lẫn lộn. Do vậy, mọi cái đang-là-trong-thế-giới (being-in-the-world) đều là đang-là-với-nhau (being-with, hay Mitsein trong tiếng Đức).
Ý thức bản thân trong hiện tại (hành động, suy nghĩ, cảm xúc), ném mình vào trải nghiệm để bản thân tự nó phơi mở ra cho ta, thì ta sẽ kết nối hơn với bản thân, và đồng thời cũng kết nối hơn với mọi người, mọi vật quanh ta. Đây chính là cái biết mình (know yourself) đích thực.
The Artist Sketching at Mount Desert, Maine – Sanford Robinson Gifford (1860s)
Thay đổi bản thân: những gợi ý thực tiễn
23. Không phải ta muốn gì, mà là ta thực sự cần gì
Trong đoạn 4-12, ta đã thấy việc “muốn” (phục vụ cái Tôi) đã dẫn đến kết quả là ta sẽ bất mãn thế nào, cho nên sẽ thiết thực hơn nếu ta điều chỉnh câu hỏi thành “ta thực sự cần gì”.
Con người đã tiến hóa và sinh sống bằng hình thức săn bắn – hái lượm từ khoảng 1.8 triệu năm trước, do vậy, sẽ rất hay nếu ta thử tìm gợi ý trong một cái gì đó uyên nguyên cốt lõi (origin) mà tổ tiên ta và ta cùng chia sẻ:
Kết nối với cộng đồng (cảm thấy an toàn, cảm thấy thuộc về)
Kết nối với thiên nhiên
Kết nối với bản thân ( sống một cách tự nhiên tự tại; cái Tôi khiến chúng ta mất kết nối với bản thân)
Kết nối với công việc (tự chủ – sáng tạo – có ích cho cộng đồng)
Tôi xin lấy một ví dụ thực tiễn để liên hệ đến cái uyên nguyên cốt lõi này, đó là vấn đề của giải trí: Ngày nay, ta bị nghiện giải trí quá nhiều, bởi bình thường tâm trí ta sẽ áp lực, và mệt mỏi, cho nên giải trí cần phải dễ dãi, thì mới có thể bù đắp được sự cạn kiệt về thể chất và tinh thần.
Nhưng tổ tiên ta cũng có nhu cầu giải trí, đúng không?
Và cái giải trí của họ lấy thực tế (reality) làm chất liệu: câu cá, đi săn, vật lộn, nhảy múa, nghi thức lễ hội (rituals, games), trò chuyện, bắt chấy cho nhau, xây sửa nhà lá, vẽ vời (tranh hang động),… vốn rất khác với giải trí ảo của ta bây giờ: đọc tin tức, hóng hớt showbiz lộ hàng đánh ghen, tiktok, mạng xã hội, youtube, phim, self-help, porn, nhạc, manga, anime, game, order đồ ăn vặt, selfie,…
Cái giải trí đầu tiên thì khá chủ động, cái giải trí ảo thì lại khá bị động, bạn thấy khác chưa?
Tất nhiên những giải trí ảo không hẳn hoàn toàn xấu, nhưng tốt hơn hết là ta cần hiểu rõ cơ cấu của chúng để tránh bị nghiện và làm nô lệ cho chúng. (từ khóa: dopamine detox)
Những giải trí lấy thực tế làm chất liệu ở xã hội hiện đại có thể bao gồm: thiền-yoga (kết nối với bản thân), gặp gỡ trò chuyện (với những người bạn thật sự cảm thấy được là chính mình), chơi thể thao, vẽ vời, dọn nhà, tham gia workshop, ca hát, nhảy múa, nấu ăn, lao động tay chân, chơi với chó mèo, coi phim tài liệu,…
24. Cách tư duy vận hành
Để hiểu bản thân, rất cần hiểu cách tâm trí chúng ta vận hành:
Kích thích > trí nhớ > phản ứng > ý nghĩ > ý tưởng -> hành động.
Sense > memory > response > thought > idea > action.
Bất cứ phần nào trong các phần trên cũng cần tìm hiểu.
Ví dụ như Phản ứng, nó sẽ xảy ra ngay, bạn không chủ động nó được, đó là lý do bạn nghĩ bạn nên làm thế này, nhưng đến lúc làm thì lại thế khác, vì cơ bản thói quen phản ứng nó sẽ xảy ra một cách tự động.
Nhưng bạn có thể chủ động với các kích thích như là chủ động tắt điện thoại tránh xao nhãng, uống nước căng bụng khi thèm ăn, thu xếp với đồng nghiệp hay bố mẹ là đừng làm phiền vào khung giờ đó.
Ngoài ra, bạn cũng có thể chủ động với những việc như là dùng lý luận để chối bỏ những ý tưởng, niềm tin không còn phù hợp với bạn.
25. Cái Tôi – nguồn cơn của đa số vấn đề trong cuộc sống
Bạn sẽ cần đọc bài viết sau đây, để hiểu hơn về quá trình tâm lý hình thành nên cái Tôi của mỗi chúng ta:
Thiền giúp bạn cai nghiện suy nghĩ, bình tâm lại, trữ năng lượng tâm trí, đưa tâm trí về trạng thái mặc định (default mode), rỗng rang thanh thản.
Thiền giúp bạn trong lúc quan sát cơ thể, tâm trí, bạn phát hiện ra những suy nghĩ lặp đi lặp lại như một sự ám ảnh, đó sẽ là những suy nghĩ xâm chiếm cuộc đời bạn, thành thói quen, tính cách bạn: nhận rõ chúng sẽ giúp bạn đối diện chúng rốt ráo hơn.
Ví dụ thực tế: hồi đấy trong lúc tôi thiền, tôi thấy toàn mấy cái vớ vẩn trên facebook hiện ra trong tâm trí, từ đó tôi dứt khoát cài phần mềm chặn news feed trên facebook luôn, và không còn dùng facebook nhiều như trước nữa.
27. Những chuyện ta kể ta nghe
Những niềm tin, định kiến sai lầm của ta, những suy nghĩ ta thường lặp lại trong tâm trí ta, sẽ là thứ ảnh hưởng lớn tới chất lượng đời ta, ví dụ như 3 câu mà các bệnh nhân trầm cảm thường tự nói với bản thân là:
Tôi là kẻ vô dụng
Không ai thương tôi cả
Tương lai tôi vô vọng
Việc thay đổi những nếp suy nghĩ đã thành thói quen từ nhỏ, là chuyện khó, cần thời gian để giải thích lại và hóa giải chúng. Một trong những cách hiệu quả để làm được việc này, đó là tìm học tri thức: tri thức để hiểu bản thân, và tri thức để hiểu thế giới. Đây cũng là một phần của liệu pháp nhận thức hành vi. (Cognitive behavioral therapy)
“Trong bóng tối, bạn nhận cái thứ ngoằn ngoèo trước mặt là con rắn, bạn sợ run bần bật, nhưng tự dưng bật đèn sáng lên, bạn thấy thật ra đó là dây thừng.”
Tri thức, giống như ngọn đèn soi sáng những niềm tin sai lầm vậy.
28. Ngồi lại với vấn đề, ta mới có thể quan sát, và hiểu vấn đề
Có phải rất thường xuyên, bạn nghĩ là bạn thích một thứ, nhưng làm thì lại không thích; và ngược lại, bạn nghĩ là bạn không thích, nhưng làm thì lại thấy thích không?
Như vậy, thì bạn có nên tin vào suy nghĩ bạn quá nhiều như trước không?
Đó là lý do bạn nên làm luôn, bởi chỉ khi bạn thử tiếp xúc, ngồi lại với vấn đề, thì bạn mới có thể hiểu vấn đề.
Nhiều người khi đặt ra mục tiêu, tới lúc thực hiện lại gặp khó chịu, sẽ bỏ dở, đi kiếm những sự giải trí, thỏa mãn nhất thời, khiến cho họ mãi không hiểu vấn đề.
Ví dụ thực tiễn: Hồi đó tôi nghiện order đồ ăn vặt qua điện thoại, buồn xíu là order, sau đấy nhờ tâm niệm “chỉ có ngồi lại với đói, mình mới hiểu đói” thì cuối cùng tôi thấy hiểu đói thật! Như là khi đói, cuồng ăn, thì tôi ngồi thiền, quan sát đói, sau 15 phút, tôi hết đói. Một cách khác nữa là tôi kết hợp uống nước no bụng, thì bụng bớt đói rất nhiều. Cuối cùng tôi giảm phát từ 75kg xuống 68kg luôn (nay ổn định loanh quanh 70 kg).
Sau này nữa tôi nhận ra thật ra tôi không đói đồ ăn, mà là đói tâm hồn (công việc thú vị, trò chuyện với bạn bè, ra chơi với thiên nhiên,…).
29. Mentor (người hướng dẫn), gia đình, và những người bạn thật sự
Chúng ta là loài bầy đàn, ta khó mà tự mình nhận ra vấn đề hay tự giúp ta được, vì tâm trí ta bị lấp đầy bởi sự chủ quan của ta, và ta cũng chưa được trang bị công cụ về tư duy (ví dụ tư duy phản biện, tư duy logic,…) để tự mình tìm học. Thêm nữa, đó là ta sẽ nhận được rất nhiều năng lượng, động lực từ người khác; thiếu nguồn động lực đó, thay đổi sẽ rất khó khăn.
Bạn bè, mentor, bố mẹ,… gồm cả người ta ưa, ta ghét, sẽ giúp ta rất nhiều trong việc nhận rõ vấn đề của ta: bởi hầu hết vấn đề hàng ngày của ta đều liên quan tới mối quan hệ giữa ta với người khác.
Việc tự tách biệt và soi xét bản thân trong cô độc, chỉ có thể giúp ta thấy rõ ta hơn một phần, và cũng cần thiết, nhưng hẳn sẽ tốt hơn nếu có kết hợp với việc tiếp xúc xã hội: cái này sẽ tùy vào hoàn cảnh, tâm tính của mỗi người.
Vậy, làm sao để có thể tiếp xúc, kết giao với những người ta thực sự cần? Đó là ta cần thật sự thể hiện bản thân: thay vì cuốn mình vào những cuộc gặp vui chơi giải trí hời hợt, nói xấu người khác, hóng hớt chuyện tầm phào để mong hòa đồng, thì bạn cần nói lên cái bạn thật sự muốn nói. Khi bạn thể hiện thật đúng bản thân, bạn sẽ có nguy cơ bị ghét, bị cô lập, nhưng nó cũng tạo ra cơ hội, để bạn có thể tìm thấy những người bạn thật sự, những người sẵn sàng lắng nghe và cùng bạn giải quyết vấn đề, số này sẽ rất ít, nhưng cũng sẽ rất chất.
Thực tế khi tôi thật sự nói lên suy nghĩ của bản thân với bố mẹ, và học cách lắng nghe bố mẹ, thì mối quan hệ chúng tôi cũng đã cải thiện hơn rất nhiều: tới mức giờ tôi đã lớn rồi, mà mẹ vẫn ôm hôn tôi chùn chụt. haha
Mentor cũng vậy, hồi xưa người ta phải tầm sư học đạo, đi làm phụ việc cho thầy, thì bây giờ, ít nhất bạn cần cất lên tiếng nói, thể hiện bản thân là người muốn học, vì “người thầy chỉ xuất hiện khi người học trò xuất hiện”.
30.
Có những buổi sáng, tôi thức giấc, nghĩ “mình sẽ không làm được”, và sau đấy lại tự bật cười với chính mình vì nhận ra mình đã trải qua biết bao nhiêu lần nghĩ như vậy rồi.
Nếu có thất bại, thì ta hãy thất bại từng ngày một.
Thử lại lần nữa, từng ngày một.
Nếu khó khăn, hãy khó khăn từng ngày một.
Và sẽ có những lúc, ta thấy cái đẹp, thấy tình yêu, thấy thi ca, thấy lòng tràn ngập đất trời bao la: ta và cuộc sống hòa vào nhau như là một.
Và lúc đó hẳn ta sẽ nghĩ, “ôi tất cả chúng thật xứng đáng”.
Robin Dreeke – Người lãnh đạo chương trình Phân tích hành vi phản gián của FBI đã có một bài phỏng vấn chia sẻ 10 kỹ thuật để tạo dựng sự tin tưởng nhanh chóng trong việc kết nối với người khác. Tất nhiên, để tạo dựng được một kết nối vững chắc và gắn kết sẽ cần thời gian dài cùng sự chân thành của bạn. Nhưng 10 kỹ thuật dưới đây chắc chắn sẽ có nhiều giá trị cho những lần gặp gỡ đầu tiên để bạn có thể nhanh chóng lấy được sự tin tưởng của người khác, nhằm tạo ra lợi thế ban đầu trong việc kết giao.
1. Thiết lập một giới hạn thời gian
Khi một người lạ muốn kết nối hoặc làm quen với chúng ta, chắc hẳn ai cũng sẽ có một chút tâm lý e dè và lo ngại hoặc không thực sự thoải mái. Đây không phải là một sự trùng hợp ngẫu nhiên. Là là một cơ chế sinh tồn, chúng ta rất khó đánh giá xem những người xung quanh chúng tôi có phải là mối đe dọa hay không.
Và may mắn, theo Robin có một cách rất đơn giản để khiến mọi người cảm thấy thoải mái hơn: Hãy cho họ biết bạn sẽ không chiếm nhiều thời gian của họ.
“The first step in the process of developing great rapport and having great conversations is letting the other person know that there is an end in sight, and it is really close.”
“Bước đầu tiên trong quá trình phát triển mối quan hệ tuyệt vời và có những cuộc trò chuyện tuyệt vời là cho người kia biết rằng có một điểm kết thúc của cuộc trò chuyện trong tầm mắt và nó thực sự gần kề”
– Robin Dreeke
Là một người mới chuyển đến một thị trấn mới, mẹo này rất tốt khi bắt đầu nhanh chóng các cuộc trò chuyện với những người xung quanh. Ví dụ như:
“Tôi sẽ gặp vợ tôi trong vài phút nữa. Nhưng tôi tò mò về cuốn sách bạn đang đọc…. ”
“Tôi phải đi họp. Tôi có một câu hỏi nhanh….”
Những cụm từ đơn giản này không chỉ giúp mọi người thư giãn. Tôi cũng nhận thấy rằng họ mang lại nhiều năng lượng hơn cho tương tác vì họ biết cuộc trò chuyện sẽ không kéo dài.
2. Thể hiện những cử chỉ giao tiếp phi ngôn ngữ một cách thoải mái
Hãy thể hiện bản thân một cách thoải mái và không mang tính chất đe dọa hoặc quá tự tin theo kiểu “siêu anh hùng”. Những ngôn ngữ cơ thể mà chúng ta sử dụng có giá trị lớn đến mức bạn không thể ngờ được trong giao tiếp. Để thực hiện điều này, theo Robin chúng ta có thể làm:
Nghiêng đầu sang một bên một chút và hếch cằm để tăng sự tự tin và không có nguy cơ bị mọi người coi thường.
Đứng nghiêng hoặc sang một bên một chút để mọi người tự do di chuyển để họ không cảm thấy bị mắc kẹt.
Và tất nhiên, hãy mỉm cười.
Khi bạn bước vào một căn phòng với một nhóm người lạ, bạn sẽ tự nhiên bị thu hút bởi những người trông tức giận và khó chịu hay những người có nụ cười và mỉm cười? Mỉm cười là kỹ thuật phi ngôn ngữ số một mà bạn nên sử dụng để trông dễ chịu hơn ”.
– Robin Dreeke
3. Nói một cách chậm rãi, từ tốn
Hãy tưởng tượng ai đó đến gần bạn trên phố, chặn đường bạn bằng cách đứng ngay trước mặt bạn và bắt đầu nói rất nhanh và hãy tưởng tượng cùng một người đến gặp bạn nhưng thay vì cản đường bạn và nói liến thắng, họ lại đứng về phía bạn và nói một cách điềm tĩnh và từ tốn.
Nếu bạn giống tôi, trong trường hợp đầu tiên, radar bên trong của bạn sẽ ở trạng thái báo động đỏ, trong khi tình huống thứ hai sẽ khiến bạn cảm thấy thư giãn hơn nhiều.
Nghiên cứu đã chỉ ra rằng nói nhanh trong một số tình huống nhất định có thể mang lại cho bạn sự tín nhiệm và thậm chí khiến bạn nghe có vẻ thông minh hơn. Tuy nhiên, mục tiêu khi gặp gỡ những người mới là làm cho họ cảm thấy thoải mái. Theo những gì Robin học được, để đạt được điều này, chúng ta nên nói chậm hơn bình thường và thỉnh thoảng tạm dừng để mọi người có không gian tiếp thu những gì chúng ta đang nói
4. Yêu cầu sự trợ giúp
Hãy nhớ lại khoảng thời gian khi ai đó yêu cầu bạn giúp đỡ nhanh chóng. Có thể họ yêu cầu bạn giữ chỗ trong hàng hoặc yêu cầu bạn giúp họ mang hành lý lên các bậc thang.
Nếu bạn giống như hầu hết mọi người, bạn rất vui khi được nhờ trợ giúp và trong một số trường hợp, điều này thậm chí còn dẫn đến một sự kết nối thân thiện và nhanh chóng.
Từ kinh nghiệm của Robin, anh ấy không tìm thấy công cụ nào tốt hơn để làm quen với mọi người hơn là yêu cầu hỗ trợ hoặc được giúp đỡ. Chỉ cần nêu rõ để người kia dễ dàng thực hiện bằng cách đưa ra yêu cầu đơn giản, có thời hạn và không đe dọa.
“Là con người, chúng ta có phản xạ để đáp ứng các yêu cầu hỗ trợ. Sự phản xạ có tính bắt buộc dựa trên thực tế rằng tổ tiên xa xưa của chúng ta biết rằng nếu họ không giúp đỡ khi được yêu cầu, thì sau này chúng ta sẽ không được giúp đỡ từ người khác nữa. ”
– Robin Dreeke
5. Giảm bớt “cái tôi”
Tôi hỏi một người bạn rằng bài viết của anh ấy như thế nào và anh ấy trả lời rằng nhiều bài báo gần đây của anh đã lan truyền rất tốt. Tuy nhiên, thay vì tìm hiểu thêm chi tiết, tôi đã nói với anh ấy về một giải chạy đua mà tôi đã tham gia vào năm ngoái đã thu được kết quả tương tự.
Không cần phải nói, sai lầm này – chắc chắn có thể tránh được nếu tôi loại bỏ cái tôi của mình khỏi một cuộc so sánh mà đã hút hết không khí thân thiết ra khỏi cuộc trò chuyện.
Đặt “cái tôi” của bạn sang một bên và chỉ tập trung vào mong muốn, nhu cầu và ý kiến của những người xung quanh bạn không phải lúc nào cũng dễ dàng. Nhưng nó đáng được lưu tâm. Hầu hết mọi người gần như không quan tâm nhiều đến câu chuyện của bạn như câu chuyện của chính họ và họ chắc chắn không thích bị “sửa sai” hoặc sửa chữa.
Theo Robin, những người cho phép người khác tiếp tục trò chuyện mà không cần đến lượt mình thường được coi là những người đàm thoại giỏi nhất. Không chỉ vậy, những người có thể bỏ quả thành công “cái tôi” của mình còn được săn đón khi bạn bè hoặc gia đình cần ai đó lắng nghe mà không phán xét.
Hãy tiếp cận mỗi cuộc trò chuyện như một cơ hội học hỏi. Hãy tìm kiếm và hiếu kỳ về câu chuyện của những người khác. Nhắc nhở bản thân rằng những điều tốt đẹp sẽ xảy ra khi chúng ta ưu tiên hai tai để lắng nghe hơn là cái tôi của mình.
6. Công nhận người khác
Trong chương trình cuối cùng của mình, Oprah Winfrey đã chia sẻ bí quyết khiến mọi người cởi mở với cô: “Tôi đã nói chuyện với gần 30.000 người trong chương trình này và tất cả 30.000 người đều có một điểm chung. Tất cả họ đều muốn được công nhận.”.
Những kiến thức của Robin phản ánh kiến thức của Oprah và để bắt đầu xây dựng cơ chế công nhận người khác của bạn, anh ấy khuyên bạn nên ghi nhớ 3 điểm dưới đây:
Lắng nghe: Cách nhanh nhất để cải thiện kỹ năng nghe của bạn là chỉ cần tạm dừng công việc của bạn. Như Robin đã nói – “Khi tập trung vào người khác và chúng ta không muốn kể câu chuyện của chính mình, chúng ta có xu hướng ghi nhớ tốt các chi tiết. Chúng ta đang quan tâm. “
Chu đáo: Một lần nữa, điều này không cần phải là một vấn đề lớn. Những cử chỉ nhỏ như đưa cho ai đó bạc hà, khăn giấy hoặc thậm chí là nước rửa tay (với tình trạng lộn xộn gần đây mà tất cả chúng ta đều gặp phải) có thể giúp bạn xây dựng mối quan hệ một cách lâu dài.
Công nhận suy nghĩ và ý kiến: Khi ai đó nói điều gì đó mà bạn có thể không đồng ý, thay vì chặn họ lại, Robin khuyên bạn nên nói một biến thể của cụm từ này thay thế – “Ồ, điều đó thực sự thú vị. Tôi chưa bao giờ nghe nó theo cách đó. Hãy giúp tôi hiểu hơn. Làm thế nào bạn tiếp cận điều đó?”
7. Hỏi… Làm thế nào? Khi nào? Tại sao?
“Một khi cá nhân được nhắm mục tiêu trong cuộc trò chuyện để cung cấp nhiều từ và suy nghĩ hơn, một nhà trò chuyện giỏi sẽ sử dụng nội dung được đưa ra và tiếp tục đặt những câu hỏi mở về cùng một nội dung.”
Hãy luôn cố gắng hướng trọng tâm cuộc nói chuyện về phía đối phương với những câu hỏi dạng này để làm họ cảm thấy được kết nối.
8. “Cho một ít để nhận được một ít”
Khi gặp một số trường hợp xảy ra khó khăn trong việc kết nối, những kỹ thuật thông thường không có hiệu quả thì bạn có thể thử với phương pháp này. Phương pháp “cho một ít để nhận được một ít. Có 2 trường hợp có thể dễ bắt gặp:
Khi ai đó rất hướng nội, đề phòng hoặc cả hai.
Khi ai đó nhận thức rõ họ đã nói bao nhiêu, và họ đột nhiên cảm thấy lúng túng khi tiếp tục câu truyện.
Hãy nhớ điều này vào lần tới khi bạn nói chuyện với một người dè dặt hoặc câu truyện trở nên dài dòng. Bằng cách tiết lộ một chút thông tin chi tiết về trải nghiệm của chính bạn, bạn có thể thấy họ sẵn sàng tiếp tục nói về trải nghiệm của chính mình.
Chỉ cần thận trọng để không lạm dụng kỹ thuật này vì bạn có nguy cơ cuộc trò chuyện di chuyển theo hướng của bạn hơn khi trọng tâm phải luôn hướng về người kia.
9. Tặng quà
Theo Robin, hạn chế “cái tôi” và tặng quà là nền tảng của những người giỏi xây dựng mối quan hệ.
Lời khen chân thành luôn tốt đẹp. Điều tương tự cũng xảy ra đối với những thông điệp chu đáo theo sau khi bạn gặp ai đó hoặc tỏ ra chú ý hay tặng ai đó một món quà vật chất như một cái kẹo bạc hà, một tờ giấy lau.
Theo Robin, một trong những món quà giá trị nhất mà chúng ta có thể trao cho một con người khác chính là “sự tập trung” trong giao tiếp của chúng ta. Xét cho cùng, là con người, chúng ta đều thích những thứ khác nhau, nhưng một trong số ít điểm chung của tất cả mọi người là chúng ta thích thú khi lời nói của chúng ta đang được lắng nghe và được mọi người theo dõi, ghi nhận.
10. Quản lý kỳ vọng
Tất cả chúng ta đều đã trải qua lúc này hay lúc khác bước vào một cuộc trò chuyện với sự kỳ vọng cao và rồi cảm thấy thất vọng khi kết thúc.
Tất cả chúng ta cũng đã trải qua mặt trái của tình huống này khi rõ ràng người mà bạn đang nói chuyện cũng đang muốn điều gì đó từ bạn. Tất cả chúng ta đều có mối quan tâm riêng của mình.
Tuy nhiên, chìa khóa để xây dựng lòng tin với mọi người là tạm dừng mong muốn, nhu cầu, ước mơ và quan điểm của chúng ta để tìm hiểu tốt hơn về người mà chúng ta đang nói chuyện cùng. Sau tất cả, những người giá trị nhất dành thời gian để hiểu giá trị của người khác.
“The individuals in life that are able to either mask their agenda or shift the agenda to something altruistic will have great success at building rapport.”
— Robin Dreeke
Tổng kết
Niềm tin là thành phần quan trọng gắn kết mọi mối quan hệ tuyệt vời với nhau. Đó là chất kết dính chắc chắn nhất.
Vẻ đẹp trong cách dạy của Robin là anh ấy đưa ra những lời khuyên và lời nhắc rất đơn giản nhưng có thể thực hiện được mà tất cả chúng ta có thể sử dụng trong các cuộc trò chuyện hàng ngày để xây dựng lòng tin với những người xung quanh.
Tập trung vào việc giúp mọi người cảm thấy thoải mái hơn bằng cách cho họ biết bạn sẽ không chiếm nhiều thời gian của họ và nói chậm trong khi sử dụng ngôn ngữ cơ thể thân thiện.
Hãy kìm hãm sự thôi thúc chia sẻ câu chuyện của bạn và đặt những câu hỏi mở để học hỏi tốt hơn về kinh nghiệm và ý kiến của những người khác.Cuối cùng, hãy lắng nghe mọi người và cho họ thấy sự tập trung hoàn toàn của bạn vào câu chuyện của họ.
Covid-19 đến và thế giới sẽ không bao giờ trở về trạng thái lúc trước được nữa. Chúng ta đang sống trong một thời đại khủng hoảng, hỗn loạn và rất bất định về những điều sắp diễn ra. Mọi thứ diễn biến cực nhanh mà không hề được đoán định, ví dụ như là dịch bệnh, những cuộc bầu cử, căng thẳng thương mại, biến đổi khí hậu cùng rất nhiều thiên tai hoành hành với mức độ càng ngày càng thảm khốc, những dự đoán tiêu cực về khí hậu trên các phương tiện truyền thông…
Hay gần hơn với cuộc sống hằng ngày đó là tình trạng thất nghiệp, công việc kinh doanh trở nên khó khăn và khốc liệt hơn, những viễn cảnh không tươi sáng vẫn cứ trực chờ ập xuống.
Trong hoàn cảnh ấy, có những người chọn thu mình vào một góc, cô lập và tách rời bản thân khỏi những vấn đề của thế giới. Số khác thì có xu hướng tấn công và kiểm soát những yếu tố này và buộc thế giới, con người xung quanh họ phải hành động theo một cách nhất định. Tuy nhiên, vẫn sẽ có một vài người dường như bình thản trong sự hỗn loạn này và tìm ra phương hướng để đứng giữa hỗn loạn và làm chủ mọi thứ trong khi mọi người xung quanh vẫn để những lo lắng, sợ hãi tiếp diễn. Vậy họ làm như thế nào?
Những người này biết chắc một điều: “Khi thế giới thay đổi nhanh chóng, bạn không cần một sự chắc chắn – bạn chỉ cần một điều đó là chính mình. Bởi vì “cái tôi” – bạn là ai và bạn tin vào điều gì, có thể là một hằng số giữa nhiều biến số thay đổi của cuộc sống. Bạn không cần phải dự đoán thảm họa tiếp theo hoặc cách mọi người sẽ ứng phó với nó. Bạn chỉ cần hiểu rõ hơn với bản thân về người bạn muốn trở thành trong thời đại đầy bất ổn này.”
Tập trung vào con người hiện tại.
Những người có ý thức vững vàng về bản thân luôn luôn sẽ giữ được góc nhìn khách quan khi họ lo lắng. Họ có thể nhìn thấy rõ tình trạng thực tế về những gì đang xảy ra mà không làm mọi chuyện trở nên quá bi quan hoặc quá lạc quan. Họ có thể đánh giá nhu cầu của bản thân (và nhu cầu của gia đình, cộng đồng) mà không trở thành người “cầm đèn chạy trước ô tô” hay quá chậm trễ trước những sự kiện.
Ngược lại, những người có ý thức yếu hơn về bản thân có xu hướng gặp khó khăn hơn trong việc đánh giá nhu cầu của thời điểm hiện tại, thay vào đó họ chuyển trọng tâm quá nhiều vào tương lai. Mặc dù điều này có thể hữu ích khi dự đoán các sự kiện tiêu cực và lập kế hoạch phù hợp, nhưng nó có thể biến thành những lo lắng về các vấn đề không đáng có. Điều này vô tình làm giảm đi năng lượng của chúng ta trước những vấn đề ở hiện tại.
Bạn có thể tự hỏi: “Hôm nay tôi muốn chịu trách nhiệm với bản thân như thế nào?” Và sau đó dành nỗ lực của bạn cho câu trả lời. Tập trung vào các vấn đề dựa trên thực tế cũng có thể giống như sau:
Thu thập dữ kiện thông qua các nguồn tin uy tín.
Hãy tập trung vào những sự kiện đó chứ không phải “điều gì xảy ra nếu”.
Tự giáo dục bản thân về những thách thức trong cộng đồng, xã hội của bạn.
Hỏi người thân những gì họ cần thay vì phỏng đoán.
Xác định điểm mạnh và điểm yếu trong cách giải quyết vấn đề của bạn.
Những người có ý thức vững chắc nhất về bản thân là những người có thể tiếp thu sự thật của thử thách và sử dụng chúng để hiểu họ cần phải có trách nhiệm với bản thân và chịu trách nhiệm với người khác như thế nào. Và một điều rất tích cực xảy ra khi bạn có thể tập trung vào những thách thức của ngày hôm nay: Bạn bắt đầu tin rằng bạn có thể đối phó với bất cứ điều gì mà tương lai xảy tới.
Tìm sự ổn định từ bên trong.
Khi mọi người cảm thấy rằng họ không thể đoán trước được tương lai, họ thường nhanh chóng dựa vào người khác để kiểm soát sự lo lắng của mình. Điều này đôi khi được gọi là “vay mượn bản thân”, vì nó khiến bạn “có vẻ” điềm tĩnh hơn, có năng lực hơn và trưởng thành hơn so với thực tế.
Việc tự đi vay có thể giống như nhờ một người bạn trấn an rằng năm 2021 sẽ là một năm tốt hơn năm 2020 hoặc có thể bạn yêu cầu đối tác của mình nghỉ làm trong ngày để bạn không cảm thấy mình là một người lười biếng. :-s
Có thể thấy một số biểu hiện của việc này như:
Cần mọi người đồng tình với suy nghĩ của bạn.
Cố gắng ép buộc người khác phải lựa chọn giống bạn.
Làm theo lời khuyên mà không sử dụng suy nghĩ, quản điểm của riêng bạn.
Thông qua “niềm tin” để lấy lòng người.
Cần dự khen ngợi hoặc được chú ý để lấy sự bình tĩnh.
Bạn muốn hành động như thế nào khi người khác đang hoảng sợ, lo lắng, sỡ hãi? Điều gì đáng làm, ngay cả trong thời điểm hỗn loạn và không chắc chắn? Bạn càng hiểu rõ mình đang cố gắng trở thành ai và bạn muốn làm gì, thì bạn càng có thể thực hành kích hoạt tầm nhìn đó khi căng thẳng và hỗn loạn lên cao.
Xây dựng một bản thân vững chắc hơn cũng đòi hỏi bạn phải chịu trách nhiệm nhiều hơn cho sự lo lắng của mình. Bạn có thể không gây ra sự đau khổ của mình, nhưng bạn đối phó với nó như thế nào là tùy thuộc vào bạn. Mọi người tìm kiếm thông qua thói quen tập thể dục, thực hành thiền định, nhưng sự thật là không có phương pháp chữa trị hoàn hảo cho sự lo lắng. Học cách tự điều chỉnh sự lo lắng là một hành trình dài cả đời, không phải là một bài học với năm bước đơn giản.
Điều quan trọng là luôn tò mò về những phương pháp có thể giúp ích và luôn linh hoạt khi điều gì đó không diễn tốt như bạn muốn, những biến cố cuộc sống xảy. Bạn sẽ có thể điều hướng một hiện tại đầy bất trắc và sẽ trở thành nguồn lực cho bản thân trong tương lai. :yuush:
Hôm trước, tình cờ xem được đoạn video review TENET của phê phim, nghe tới khái niệm entropy. Hôm sau, một anh đồng nghiệp share một bài viết cũng về entropy khi gặp một vài vấn đề trong dự án.
Thấy tò mò và cũng có chút thấy gì đó đúng đúng, khoa học cũng như tâm linh nào đó nên mình thử tìm hiểu về thuật ngữ này. Vô tình nó lại là cả một bầu trời tri thứ. Có lẽ bài viết này mình sẽ nhặt nhạnh và tóm gọn các ý mà mình đã lượm nhặt được trong quá trình tìm hiểu về nó nên nếu các bạn thấy các ý bài viết ở đâu đó xin đừng gạch đá mình nhé @@
Đầu tiên phải đặt câu hỏi nó là gì trước đã?
Định luật Murphy phát biểu: “Bất kỳ thứ gì có thể trở nên tồi tệ, thì sẽ trở nên tồi tệ.” (Anything that can go wrong, will go wrong.)
Ở thế bạn đang tự hỏi đang nói về Entropy cơ mà, sao lại đưa cái câu phát biểu Murphy gì gì kia là sao, nó liên quan gì ở đây?
Bàn tiếp nào, vấn đề dường như phát sinh một cách tự nhiên trên chính bản thân chúng, trong khi giải pháp luôn đòi hỏi sự quan tâm, năng lượng và công sức của chúng ta. Đời có vẻ chẳng bao giờ diễn ra theo ý ta. Nếu có, nó sẽ trở nên phức tạp hơn và dần dần rơi vào hỗn loạn thay vì duy trì tính đơn giản và hệ thống.
Định luật Murphy chỉ là là câu châm ngôn phổ thông người đời quăng ra trong các cuộc trà đá vỉa hè, nhưng nó liên quan đến một trong những năng lượng lớn nhất vũ trụ.
Năng lượng này là căn bản để thế giới chúng ta hoạt động và nó thấm nhuần gần như mọi nỗ lực chúng ta theo đuổi. Nó dẫn dắt nhiều vấn đề chúng ta đối mặt và đưa tới hỗn loạn. Nó là lực lượng chi phối cuộc đời mọi con người: Entropy.
Haha, lại chẳng hiểu gì rồi :))
Chúng ta lại đốt cháy giai đoạn rồi. Lên wiki đi lại từ đầu nhé!!
Khái niệm Entropy được thế giới biết đến lần đầu tiên vào năm 1865, bởi nhà nghiên cứu vật lý người Đức Rudolf Clausius. Trong nhiệt động lực học, khái niệm này có thể được hiểu là sự thất thoát nhiệt năng một cách vô ích (nguồn nhiệt năng thất thoát này không được sử dụng cho bất cứ một mục đích cụ thể, hữu ích nào) trong một hệ thống phát nhiệt bất kỳ. Với một định nghĩa khác, có phần khoa học và triết học hơn, thì “entropy” có thể được dịch sang tiếng Việt thành “độ hỗn độn”, “độ hỗn loạn” hoặc “độ hỗn mang” (randomness) của một hệ thống tách biệt (isolated system) bất kỳ. Và trong hệ thống này, mức độ của entropy hoặc sẽ luôn tăng lên, hoặc sẽ được giữ ở một mức nhất định, nhưng không bao giờ giảm xuống. “Độ hỗn độn” này cũng có thể được thể hiện trong rất nhiều khía cạnh của đời sống chúng ta, không chỉ riêng lĩnh vực vật lý.
Và đây là một cách đơn giản để nghĩ về nó:
Hãy tưởng tượng bạn lấy một hộp chứa các mảnh xếp hình và đổ chúng ra bàn. Theo lý thuyết, có khả năng các mảnh xếp hình này rơi vào đúng vị trí hoàn hảo, tạo ra lời giải chính xác cho câu đố xếp hình khi bạn đổ chúng ra khỏi hộp. Nhưng trong thực tế, điều đó không bao giờ xảy ra.Tại sao?
Rất đơn giản, vì tỉ lệ thất bại chống lại nó một cách áp đảo. Mỗi một mẩu xếp hình phải rơi vào đúng chỗ của nó để tạo lời giải hoàn chỉnh. Chỉ có một trạng thái để mỗi mẩu xếp hình rơi vào đúng chỗ, nhưng gần như có vô hạn trạng thái để chúng sai lệch vị trí. Về mặt toán học mà nói, một kết quả đầu ra như vậy là vô cùng khó xảy ra một cách ngẫu nhiên.
Tương tự, nếu bạn xây dựng một lâu đài cát trên bãi biển và quay trở lại vài ngày sau, nó sẽ không còn đó nữa. Chỉ có một sự kết hợp các hạt cát để tạo thành lâu đài cát giống như cái của bạn. Trong khi đó, có một số lượng gần như vô hạn các cách kết hợp không giống như thế. Một lần nữa, về lý thuyết, sóng và gió có thể di chuyển cát xung quanh và tạo ra hình dáng lâu đài cát của bạn. Nhưng trong thực tế, điều đó không bao giờ xảy ra. Về mặt thiên văn học, xác suất chủ yếu tập trung làm cát phân tán theo cụm ngẫu nhiên.
Những ví dụ đơn giản này giúp bạn nắm bắt được bản chất của entropy. Entropy là một thước đo của sự hỗn loạn. Và luôn có nhiều biến thể hỗn loạn vượt xa với những thứ có trật tự. Đó chính là mối liên kết với định luật Murphy bên trên.
Entropy đưa ra lời giải thích hợp lý cho lý do tại sao định luật Murphy dường như xảy ra thường xuyên trong cuộc sống. Có nhiều thứ khiến mọi thứ trở nên tệ hơn là trở nên đúng đắn tốt đẹp. Khó khăn của đời không xảy ra do các hành tinh không thẳng hàng hay do một số lực lượng vũ trụ đang âm mưu chống lại bạn. Đơn giản vì entropy đang hoạt động. Như một nhà khoa học đã nói: “Entropy giống như Định luật Murphy áp dụng cho toàn bộ vũ trụ.”
Đời có vấn đề không phải lỗi tại ai hết. Đơn giản đó là một quy luật xác suất. Có nhiều trạng thái hỗn loạn và chỉ có một số ít trạng thái trật tự. Dù tỷ lệ xác suất đều chống lại chúng ta, nhưng điều quan trọng nhất, không phải cuộc sống luôn có vấn đề, mà là chúng ta đều có thể giải quyết toàn bộ chúng.
Tại sao entropy trở thành vấn đề trong cuộc sống của chúng ta?
Đây là điều trọng điểm về entropy: nó luôn luôn gia tăng theo thời gian.
Đó là xu hướng tự nhiên của những thứ mất trật tự. Để nó hoạt động theo ý muốn của chính chúng, cuộc sống sẽ luôn kém tính cấu trúc hơn.
Những lâu đài cát sẽ bị cuốn trôi.
Cỏ dại tràn ngập khu vườn.
Di tích cổ sụp đổ.
Xe cộ bắt đầu gỉ sét.
Mọi người dần già đi.
Khi đủ thời gian, ngay cả núi non cũng xói mòn và các vách đá sắc nhọn của nó cũng thành tròn.
Xu hướng tất yếu là mọi thứ đều dần kém tổ chức hơn. Điều này được gọi là Định luật thứ hai của Nhiệt động lực học. Nó là một trong những khái niệm cơ bản của hóa học và một trong những qui luật cơ bản của vũ trụ. Định Luật thứ hai của Nhiệt động lực học phát biểu rằng entropy của một hệ thống đóng sẽ không bao giờ giảm.
Nhà khoa học vĩ đại người Anh Arthur Eddington đã tuyên bố: “Tôi nghĩ rằng qui luật nói về entropy luôn tăng giữ vị trí tối cao trong các qui luật của tự nhiên. Nếu ai đó chỉ ra cho bạn lý thuyết vũ trụ yêu thích của bạn bất đồng với phương trình Maxwell – thế thì càng tệ hơn cho phương trình Maxwell. Nếu sự bất đồng ấy được xác nhận bằng quan sát thực nghiệm – phải, các nhà thực nghiệm thi thoảng cũng làm những thứ gây băn khoăn. Và nếu lý thuyết của bạn được xác nhận chống lại Định luật thứ hai Nhiệt động lực học, bạn chả còn hy vọng gì nữa; chả còn gì ngoài sụp đổ trong sỉ nhục lớn lao nhất.”
Về lâu dài, không gì thoát khỏi định luật thứ hai Nhiệt động lực học. Lực tác động của entropy không ngừng nghỉ. Mọi thứ đều tan rã. Hỗn loạn cứ thế tăng lên.
Nếu không nỗ lực, cuộc sống sẽ dần mất trật tự
Trước khi bạn kịp chán nản, có một tin tốt. Bạn có thể chiến đấu chống lại lực tác động của entropy.
Bạn có thể giải quyết một bài toán xếp hình với các mẩu ghép tán loạn. Bạn có thể kéo cỏ dại ra khỏi khu vườn. Bạn có thể dọn dẹp một căn phòng lộn xộn. Bạn có thể tổ chức các cá nhân thành một đội ngũ gắn kết.
Nhưng vì vũ trụ có xu hướng tự nhiên trượt về hướng hỗn loạn, bạn phải tiêu tốn năng lượng để tạo ra sự ổn định, tính cấu trúc và đơn giản.
Các mối quan hệ thành công đòi hỏi sự quan tâm và chú ý.
Những ngôi nhà thành công cần dọn dẹp và bảo dưỡng.
Các đội ngũ thành công đòi hỏi phải có giao tiếp và hợp tác.
Không bỏ ra công sức, mọi thứ sẽ tan rã. Quan điểm sâu sắc này – khi cho rằng hỗn loạn có khuynh hướng tự nhiên tăng theo thời gian và chúng ta có thể chống lại khuynh hướng đó bằng cách dùng năng lượng – cho thấy mục đích cốt lõi của cuộc sống. Chúng ta phải nỗ lực để tạo ra các dạng trật tự hữu dụng đủ mạnh để chịu được tác động không ngừng nghỉ của entropy.
Có Entropy khắc có “phản Entropy”
Nếu bạn để ý thì bên trên mình nói đến “Bạn có thể chiến đấu chống lại lực tác động của entropy” => Đây chính là dùng phản entropy để khắc phục entropy. Do vũ trụ này vốn mang bản chất “lưỡng cực” (duality): có âm và dương, nam và nữ, sinh và diệt, lực và phản lực…nên với entropy, chúng ta nhất định cũng có một khái niệm “phản entropy” tương ứng.
Tuy ít được biết đến, nhưng thuật ngữ negentropy đã và đang được sử dụng bởi khá nhiều người trong cộng đồng khoa học để diễn tả khái niệm này. Theo đó, “negentropy” có thể được hiểu là hiện tượng một vật hoặc một hệ thống bất kỳ biến chuyển từ trạng thái mất trật tự thành trạng thái có trật tự hơn. Giới nghiên cứu lập luận rằng, negentropy vốn dĩ là bất khả thi trong thế giới tự nhiên, trừ khi hệ thống mà chúng ta đang xét đến chịu ảnh hưởng của một tác nhân, một “lực” nào đó từ bên ngoài.
Ví dụ:
Trong trường hợp chiếc ly – chúng ta có thể thực hiện việc “phản entropy” bằng cách bọc chiếc ly với một lớp vải mỏng bên ngoài và đập thật mạnh xuống sàn nhà, khiến nó vỡ ra. Lần này, các mảnh vỡ của chiếc ly, thay vì văng đi khắp nơi trên sàn nhà, đã bị chặn lại bởi miếng vải, và nằm gọn trong miếng vải đó.
Khi đến giờ ra chơi, ban giám hiệu nhà trường quyết định chỉ cho phép các học sinh đi đến một số vị trí nhất định trong trường (ví dụ: canteen & toilet) và cấm các em đi đến một số các khu vực khác (ví dụ: khu vực xung quanh cột cờ, hoặc khu vực trước phòng giáo viên). Như vậy, các học sinh sẽ phải di chuyển theo các hướng nhất định, đi đến những khu vực nhất định trong sân trường. Sự mất trật tự đã được thay thế bởi trật tự.
Vì cảm thấy không thể tập trung làm việc khi mà chúng ta bị bủa vây bởi mạng xã hội, điện thoại, game, các tab không liên quan đến công việc khi lướt Internet…nên bạn quyết định đóng tất cả các tab không liên quan lại, và cất các thiết bị gây phân tán, cùng lúc đó sử dụng ý chí để tập trung và hoàn thành công việc/bài tập. Đây cũng là một nỗ lực “phản entropy”, với sự trợ giúp của ngoại lực là ý chí của bạn, hoặc một người giám sát nào đó (có thể là mẹ bạn!).
Sự lão hóa theo thời gian của các thiết bị, máy móc & cả cơ thể con người là sự thể hiện của entropy. Việc bảo trì các máy móc, thiết bị này, hoặc tập thể dục, yoga, ăn ngủ đúng cách & điều độ…nhằm làm chậm quá trình lão hóa của cơ thể, do đó, cũng là những ví dụ về negentropy.
Việc tại sao vũ trụ lại cần đến sự hiện diện của một lực như entropy thì giới khoa học hiện nay vẫn chưa có lời giải thích thỏa đáng. Tuy nhiên, ảnh hưởng của nó đến đời sống của chúng ta lại vô cùng lớn, tuy không quá rõ ràng, đơn cử là việc entropy có thể khiến chúng ta mất tập trung vào công việc hoặc quá trình học tập và tạo ra tình thế “hỗn loạn” (bị thầy cô giáo phê bình –> bị hạ bậc học lực –> kết quả học tập sa sút –> không vào được trường đại học tốt –> không kiếm được một công việc tốt…cứ như thế cuộc đời của chúng ta bị nhấn chìm bởi entropy). Nếu “khả năng phản entropy” nghe có vẻ khó hiểu, thì bạn có thể thay thế nó với khả năng tự kỷ luật (self-discipline).
Tính kỷ luật đã từng được nhiều nhà nghiên cứu tâm lý công nhận là tính cách quan trọng nhất quyết định sự thành bại của đời người (bạn đọc có thể tham khảo thí nghiệm Marshmallow để tìm hiểu thêm).
Và tất nhiên, một “cuộc sống tốt” là một khái niệm có vẻ mơ hồ và chủ quan, nhưng với những khía cạnh rất cơ bản giúp cấu thành một cuộc sống thoải mái và tự do, ví dụ như việc giữ sức khỏe, thì rõ ràng negentropy đóng một vai trò không nhỏ.
Mình hi vọng sau khi đọc bài viết này bạn có thể lờ mờ hình dung và xâu chuỗi các sự kiện, biến cố của bản thân bạn lại với nhau dưới góc độ khoa học cùng với một chút ý niệm để có thể khắc phục chuỗi biến cố trong cuộc sống.
Hầu hết mọi người đều nghĩ rằng năng suất lao động là một kỹ năng, là một thứ gì đó mà bạn có thể nâng cao và rèn luyện thông qua thực hành. Nhưng sẽ rất thiếu sót nếu bỏ quên một quan điểm đó là:
Trở nên năng suất là chỉ ra những gì bạn làm ít hơn, chứ không phải nhiều hơn
Thông thường, cách tốt nhất để tăng năng suất làm việc đó chính là định hình những thói quen xấu làm ảnh hưởng tới năng suất và loại bỏ nó. Khi làm được vậy, bạn sẽ thấy mình làm việc thực sự hiệu quả hơn là bạn nghĩ.
Có 4 thói quen thông thường mà chúng ta sẽ dễ mắc phải và làm giảm hiệu suất làm việc. Hãy cùng tìm hiểu và rút ra bài học cho riêng mình:
I. Chạy Marathon thay vì chạy nước rút
Một trong những cạm bẫy của việc tăng năng suất chính là việc mọi người đang cố gắng thực hiện công việc dưới mô hình chạy marathon. Điều này là như thế nào?
Giả sử bạn có một công việc của dự án lớn cần sắp đến hạn cần phải làm. Bạn chưa vội làm ngay và lên kế hoạch là sẽ bắt đầu thực thi vào sáng thứ 3. Bạn tính toán rằng sẽ mất khoảng 6 giờ / 1 ngày để hoàn thành. Bạn sẽ đi làm đúng giờ và triển khai nó. Bạn có nguyên một ngày để làm và thấy rằng có khá nhiều thời gian để thực hiện xong công việc này.
Vấn đề chính là ở đây, bạn đã vô tình sắp xếp công việc theo dạng marathon. Với mục tiêu nâng cao năng suất lao động thì việc này là một tin không vui.
Các kịch bản có thể hoàn toàn xảy ra như sau:
Bỏ cuộc: Bạn dậy sớm, đến làm việc sớm và nhận ra còn một núi công việc ở phía trước và làm bạn có chút choáng ngợp. Công việc bắt đầu nhưng bạn liên tiếp gặp lỗi sai và phải bắt đầu lại từ đầu. Sau một vài lần, bạn quyết định bỏ cuộc.
Trì hoãn: Một trạng thái tâm lý chung của con người. Thay vì việc bắt tay vào làm việc, bạn dành một chút thời gian đọc email, trả lời tin nhắn, gọi điện và đọc 1 chút tin tức, 1 chút mạng xã hội. Lúc quyết định bắt đầu làm việc thì áp lực thời gian dồn lại và bạn có dấu hiệu sợ hãi. Chính lúc này, để lảng tránh nỗi sợ hãi, để đánh lừa tâm trí, chúng ta lại tiếp tục trì hoãn để rồi kết thúc công việc vào cuối ngày với hiệu suất thấp hoặc sẽ từ bỏ (kiểu mặc kệ đến đâu thì đến). Một ví dụ điển hình đó chính là việc nhiều bạn sinh viên vắt chân lên cổ để ôn thi vào mỗi những ngày cuối cùng, sự việc lặp đi lặp lại hết kỳ thi này đến kỳ thi khác mà chúng ta vẫn không rút được kinh nghiệm. Tưởng chừng như việc tập trung vào những thời điểm cuối cùng này là chạy nước rút nhưng không – đây là sự sắp xếp công việc theo mô hình chạy marathon.
Bị lạc: Ở đây có nghĩa là trong quá trình hoàn thành công việc với khối lượng lớn trong ngày này, chúng ta sẽ bị rơi vào một vũng lầy của một sự cố / tác vụ nhỏ cần nhiều thời gian để giải quyết. Nó ảnh hưởng và chiếm hết thời gian của các công việc khác dẫn tới ảnh hưởng tới toàn bộ thời gian. Khi bị lạc hướng, bị sa lầy, chúng ta sẽ càng hoảng loạn khi áp lực về thời gian tăng lên. Lúc này, hiệu ứng trì hoãn sẽ xuất hiện. Và kết quả công việc sẽ càng tệ đi.
Để tránh những hệ quả tiêu cực này, bạn cần học cách sắp xếp công việc theo mô hình chạy nước rút thay vì chạy marathon. “Chạy nước rút” là tập trung cao độ năng lượng vào một khoảng thời gian cụ thể với một tác vụ công việc cụ thể và rõ ràng.
Như ví dụ ở trên, thay vì lên kế hoạch theo ngày – 6 giờ thì bạn hãy chia nhỏ thời gian ra làm 3 phần. Trong mỗi phần này sẽ chia nhỏ theo mỗi 45 phút để làm một việc cụ thể trong quá trình này.
Việc phân chia này sẽ có lợi ích như sau:
Rõ ràng, sáng tỏ: Khi lập kế hoạch theo mô hình chạy nước rút, bạn sẽ định hình rõ ràng càng phần công việc cụ thể cần phải thực hiện theo từng mốc thời gian quy định. Điều này sẽ giúp cho bạn khi bắt đầu công việc sẽ cảm thấy không bị choáng ngợp bởi việc bắt đầu từ đâu. Ngoài ra sẽ giúp chúng ta tập trung và tối ưu công việc hơn.
Sự khả thi: Việc sắp xếp theo mô hình này sẽ tạo đà tâm lý rất lớn cho việc thành công của dự án. Các phần việc độc lập được thực hiện xong sẽ giúp giải tỏa tâm lý và áp lực thời gian cho toàn bộ quá trình. Làm việc với cường độ cao trong khoảng thời gian được giới hạn rõ ràng sẽ giúp bộ não được định hình và có năng lượng cũng như sức chịu đựng cao hơn nhiều. Qua đó sẽ tăng khả năng hoàn thành chuỗi công việc.
Sự tích cực: Sắp xếp công việc theo mô hình này sẽ giúp chúng ta có năng lượng tích cực sau mỗi tác vụ nhỏ được hoàn thành. Thời gian nghỉ ngắn ngủi có thể được dùng để chúng ta tự thưởng cho bản thân một cốc cafe, 1 cái vươn vai… Nó giúp tái tạo năng lượng và giữ động lực cho tác vụ tiếp theo của công việc. Điều này sẽ tốt hơn rất nhiều việc làm việc liên tục trong một quá trình khoảng 6 tiếng.
Tính linh hoạt: Nếu đang triển khai một tác vụ quá khó, chúng ta có thể tạm dừng và tạm thời chuyển sang tác vụ khác để cho đầu óc không bị áp lực. Khi hoàn thành những phần việc khó khác, trí não sẽ có thêm động lực cũng như sự tích cực khi hoàn thành tác vụ trước đó để đẩy năng lượng lên cao hơn nhằm giải quyết những tác vụ khó đang bị tạm ngưng. Chúng ta sẽ có sự linh hoạt trong xử lý công việc theo phương pháp này.
Lần tới, khi nhận được những công việc mới. Hãy thử phân tích công việc theo mô hình chạy nước rút như thế này. Với việc lập kế hoạch này, bạn sẽ có khả năng thực hiện những nhiệm vụ khó khăn hơn bạn nghĩ.
Thời gian để có thể thành thạo công việc phụ thuộc vào mức độ tập trung của chúng ta.
– Robert Greene
II. Đối phó với phiền nhiễu thay vì loại bỏ nó
Mọi người đều biết những sự xao nhãng có thể gây hại cho năng suất của chúng ta nhiều như thế nào. Từ những noti của Facebook, những thông báo email mới, những cuộc điện thoại của đồng nghiệp… những thứ làm chúng ta mất tập trung dường như có mặt ở khắp mọi nơi trong cuộc sống. Những sự xao nhãng ấy khiến năng suất lao động của chúng ta bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Vậy giải pháp của mỗi người sẽ là gì:
Chúng ta sẽ tắt thông báo hoàn toàn của điện thoại trong giờ làm việc, chúng ta sẽ đề xuất để hạn chế những cuộc họp đột xuất. Chúng ta sẽ nhắc nhở bản thân phải tập trung hơn, nâng cao ý trí để sự phiền nhiễu kia không làm mất tập trung.
Nhưng, việc cố gắng đối phó với những phiền nhiều này lại là vấn đề.
Bằng việc đối phó với nó, chúng ta sẽ ngầm tán thành sự tồn tại của nó trong công việc hằng ngày. Và dù có thể đối phó với nó ở mức độ nào đi nữa thì tất cả vẫn sẽ là chưa đủ.
Bạn sẽ không bao giờ thực sự làm việc hiệu quả nếu bạn để cho mình bị bao quanh bởi những thứ phiền nhiễu.
Không ai có đủ ý chỉ để liên tục chống lại những thứ phiền nhiễu ở xung quanh. Không ai có thể yêu cầu sếp làm tất cả mọi việc để loại bỏ mọi vấn đề gây phiền nhiễu nơi công sở, văn phòng hay việc tắt chuông và thông báo của điện thoại sẽ làm giảm bớt chú ý vào nó. Đừng đối phó mà hãy cố gắng loại bỏ chúng hoàn toàn.
Tất nhiên, những sự phiền nhiều là không tránh khỏi và không thể kiểm soát hoàn toàn. Nhưng nếu chúng ta có tư duy loại bỏ hoàn toàn chúng thì năng suất lao động sẽ tăng lên rất nhiều:
Thay vì việc tắt thông báo, hãy tắt điện thoại và bỏ vào ngăn bàn khi làm công việc quan trọng.
Thay vì việc phàn nàn với đồng nghiệp, hãy xin phòng họp để tập trung làm việc với năng lượng cao trong những khoảng thời gian cố định.
Xóa toàn bộ những “shortcut” liên quan tới giải trí, tin tức. Xóa toàn bộ những ứng dụng mạng xã hội. Thậm chí là bỏ chiếc TV ra khỏi phòng.
Nếu muốn thực sự cải thiện năng suất lao động, hãy nghiêm túc loại bỏ nguồn gốc của những phiền nhiễu ảnh hưởng tới công việc, sự tập trung của bản thân.
“To produce at your peak level you need to work for extended periods with full concentration on a single task free from distraction.”
— Cal Newport
III. Sử dụng nỗi sợ và sự chỉ trích để thúc đẩy bản thân
Rất nhiều người chúng ta đều lớn lên trong suy nghĩ rằng, phải làm việc điên cuồng để có thể thành công. Tôi gọi đây là lý thuyết về Động lực.
Chúng ta cho rằng mình phải là người trao động lực cho chính bản thân – liên tục đưa ra những lời đe dọa rằng bản thân phải làm việc thật chăm chỉ, không được chểnh mảng. Nếu không, thì sẽ không làm được việc gì cho đời và sống một cuộc đời tồi tệ, nghèo khó.
Và một trong những điều tiêu cực của việc này chính là thói quen nói những điều tiêu cực với bản thân (độc thoại tiêu cực). Tự nói chuyện tiêu cực với bản thân sẽ làm mọi chuyện trở nên tàn nhẫn và khắc nghiệt một cách phi thực tế. Những người có thói quen nói độc thoại tiêu cực sẽ hay nói với bản thân những điều như:
“Mình là một thằng ngốc. Tại sao mình lại không thể làm được việc đơn giản này”
“Tôi ước mình không phải là người hay trì hoãn như thế. Nếu tôi có thể kỉ luật hơn, có lẽ tôi đã làm được những thành tích tốt hơn”
“Tôi không có khả năng làm việc này. Khi mọi người nhận ra rằng tôi không có khả năng làm việc. Tôi là một kẻ lừa đảo chăng?”
Thói quen độc thoại tiêu cực như thế này rõ ràng thúc đẩy suy nghĩ của mỗi người rằng: “Bản thân tôi phải cố gắng hết sức mới có thể thành công” o.O
Người thành công là người loại bỏ được những lời độc thoại tiêu cực.
Trong nhiều năm làm việc, tiếp xúc, gặp gỡ với những người đạt được thành tích cao hoặc những người được coi là làm việc với hiệu suất cao. Tôi chưa thấy mức độ thành tích hay năng suất của ai giảm xuống sau khi họ từ bỏ việc độc thoại tiêu cực này.
Tất nhiên, lúc đầu ai cũng sợ rằng sẽ mất đi động lực tinh thần nếu không duy trì việc độc thoại tiêu cực với bản thân như một cách để thúc đẩy sự cố gắng. Những hãy đoán xem… điều này không bao giờ xảy ra đâu. Mọi người thậm chí còn đạt được hiệu quả làm việc tốt hơn. Năng lượng dùng để thúc đẩy bản thân bằng việc độc thoại tiêu cực sẽ được chuyển hướng sang làm những công việc tốt hơn.
Thêm vào đó, tâm trạng của chúng ta sẽ được cải thiện khá nhiều khi từ bỏ việc độc thoại tiêu cực. Tâm trạng, mức năng lượng được cải thiện không chỉ khiến ta hạnh phúc hơn mà còn giúp ta làm việc hiệu quả hơn.
Vì vậy, hãy cố gắng thoải mái với bản thân hơn một chút. Bạn sẽ làm việc với năng suất cao hơn với ít căng thẳng hơn cùng một tâm trạng tốt hơn.
IV. Làm việc của người khác hơn là việc của mình
Vào cuối ngày, khi nhìn lại công việc, bạn có thể thấy mình đã làm việc khá hiệu quả với năng suất tốt. Nhưng bạn sẽ vẫn phải vật lộn với việc nâng cao năng suất làm việc về lâu dài nếu bạn đang làm những việc không thực sự quan trọng với bạn.
Tất nhiên, có một số việc bên ngoài có thể giúp bạn tăng động lực làm việc như:
Nỗi sợ bị đuổi việc hay trở thành người kém cỏi trong mắt đồng nghiệp có thể thúc đẩy bạn.
Lời hứa về lương bổng, chức danh, sự nghiệp có thể thúc đẩy bạn làm việc chăm chỉ trong thời gian không hề ngắn.
Sự mới mẻ của công việc có thể nâng cao năng suất công việc của bạn.
Nhưng cuối cùng, có một điều phải khẳng định rằng: chỉ có động lực nội tại mới khiến chúng ta làm việc với năng suất cao trong thời gian dài. :yuush:
Nói đúng hơn là, khi chúng ta nhận định một cách sâu sắc rằng làm việc này có ý nghĩa thực sự quan trọng với bản thân thì chúng ta mới đạt được đến năng suất làm việc cao nhất của mình.
Điều này có thể giải thích rõ ràng hơn rằng:
Sẽ rất khó có một công nghệ, hay chiến lược, chiến thuật cụ thể nào để đưa bạn vượt qua giới hạn về năng suất.
Cũng không có sức mạnh ý chí hay lời động viên nào có thể giúp bạn phá vỡ giới hạn của năng suất làm việc.
Để có thể đạt năng suất, hiệu quả làm việc tốt nhất, chúng ta có thể cần phải đưa ra những quyết định khó khăn để tập trung những việc thực sự quan trọng. Sẽ có những hệ quả như:
Bạn sẽ phải từ bỏ công việc, phải bước ra khỏi vùng an toàn.
Bạn sẽ phải lựa chọn thay đổi đồng nghiệp, môi trường làm việc.
..
Tất cả những điều này, sẽ chỉ nhắm tới một mục đích duy nhất là giúp chúng ta tập trung vào đúng công việc quan trọng với bản thân và thực hiện nó với hiệu suất cao nhất trong khoảng thời gian dài nhất.
Tất nhiên, ở một góc độ nào đó, chúng ta cũng không nhất thiết phải phấn đấu đạt tới năng suất lao động tối đa. Sự lựa chọn là ở mỗi người. Trên thực tế, có nhiều người đã lựa chọn đánh đổi năng suất lao động để có một công việc ít căng thẳng hơn, có nhiều thời gian rảnh hơn… Trong bài này, 4 điều này chỉ là một góc nhìn để làm sao cho chúng ta đạt tới gần ngưỡng tối đa của năng suất làm việc.
Và một câu trích dẫn để kết bài
Một khi bạn cho phép bản thân ngừng cố gắng làm tất cả mọi việc, ngừng nói “có” với tất cả các yêu cầu, bạn sẽ tạo ra hiệu quả làm việc tốt nhất cho điều quan trọng nhất với bản thân.
Để có thể “Sắp xếp cuộc sống và phát huy hết năng lực bản thân”, cuộc sống của mỗi người cần có 4 trụ cột:
Sức khỏe
Sự giàu có
Các mối quan hệ
Sự phát triển bản thân
Tất nhiên, sẽ còn rất nhiều yếu tố khác để tác động nhưng rõ ràng rằng nếu có 4 trụ cột trên, mọi thứ sẽ đều được giải quyết một cách tốt đẹp :smoke:
Hành trình để rèn luyện 4 trụ cột cuộc sống này sẽ cần nhiều thời gian, sự kiên nhẫn, có thể là hàng năm trời. Sẽ chẳng có điều kỳ diệu nào vào một buổi sáng bạn thức giấc và thấy cuộc đời tốt đẹp. Sẽ chẳng tự nhiên bạn làm được tất cả trong ngày một, ngày hai. Đó là một quá trình dài và cần đầy những sự đánh đổi, hi sinh và cố gắng của bản thân để vươn tới một cuộc sống tốt đẹp và phát huy hết được năng lực của bản thân. :confi:
Hãy ghi nhớ điều này và bắt đầu cuộc hành trình…
I. Sức khỏe
Ngủ đủ giấc
Nếu bạn không ngủ đủ 7 – 8h một ngày, bạn hoàn toàn sai lầm và coi thường sức khỏe. Một giấc ngủ đủ và chất lượng sẽ giúp công việc trong ngày bạn làm đạt được giá trị cao nhất. Đầu óc sáng suốt sẽ giúp chúng ta suy nghĩ thấu đáo và cơ thể đạt năng lượng cao nhất.
Đầu tư một cái giường thật êm ái và dễ chịu. Ngừng sử dụng toàn bộ thiết bị điện tử trước khi ngủ 60 phút. Hãy để đầu óc thư giãn và thảnh thơi để chìm vào giấc ngủ. Cố gắng làm bất cứ thứ gì để bản thân có một giấc ngủ hoàn hảo nhất.
Ăn uống khoa học
“Ăn được, ngủ được là tiên” – Các cụ dạy rất đúng. Nhưng ăn cái gì cũng rất quan trọng trong thời buổi hiện nay. Chúng ta ăn uống lành mạnh thì bộ gen sẽ lành mạnh, cơ thể lành mạnh, đầu óc lành mạnh và thế giới quan sẽ lành mạnh theo. Việc ăn quá nhiều thức ăn, quá nhiều đường hay những thực phẩm không lành mạnh sẽ làm đầu óc trở nên kém minh mẫn cùng vô số những hệ quả tồi tệ về sức khỏe.
Hãy ăn nhiều rau củ quả, đồ ăn ít đường & chất béo… Chắc chắn bạn sẽ cảm thấy, suy nghĩ và sống tốt hơn.
Tập thể dục cường độ cao 3 lần/tuần
Không nghi ngờ gì về việc này. Chúng ta cần rèn luyện thân thể dẻo dai để có nền tảng thể lực tốt nhất. Việc rèn luyện thể lực cũng sẽ rèn luyện tính kiên trì cho bản thân mỗi người để có thể có giá trị trong công việc hay rất nhiều mặt khác nhau của cuộc sống.
Thân – Tâm luôn đi liền với nhau. Cần rèn luyện được thân thì mới rèn luyện được tâm. Rất rõ ràng.
Đi bộ 30 phút mỗi ngày
Đi bộ, chạy bộ là một cách tập thể dục tuyệt vời mà mỗi chúng ta có thể làm được. Chỉ 30 phút nhưng sẽ có kết quả tuyệt vời cho năng lượng và tuổi thọ của bạn.
Ra ngoài và đón ánh nắng mặt trời
Mặt trời là nguồn sống của trái đất, của tự nhiên. Nó đem lại năng lượng cho vạn vật trên trái đất này. Quy luật tự nhiên này là điều mà nhiều người vô tình quên mất. Việc tiếp xúc với ánh mặt trời sẽ đem lại cho chúng ta những nguồn năng lượng tự nhiên cực kỳ quý giá. Bản thân mặt trời cung cấp cho cơ thể con người rất nhiều lợi ích đến mức 15 phút tiếp xúc hàng ngày có liên quan đến việc giảm đáng kể tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân.
Kết hợp với việc đi bộ và đón ánh nắng mặt trời là một công việc tuyệt vời mỗi ngày.
II. Sự giàu có
Thành thạo một kỹ năng có giá trị
Cách nhanh nhất để kiếm tiền là làm thành thạo một kỹ năng mà xã hội đang cần thiết, sau đó bán dịch vụ với giá cao. Đầu tư vào sách, những khóa học, hoặc tìm những “coach” để đồng hành cùng bạn với mục tiêu lọt top 5% những người giỏi nhất. Lúc này thì tiền sẽ tự đến với bạn và chúng ta sẽ không bao giờ phải lo lắng về nó nữa.
Bao quanh bởi những người giàu có
Tiếp xúc với môi trường giàu có là một trong những cách nhanh nhất để cải thiện tình hình tài chính. Khi tiếp xúc với những người giàu, chúng ta sẽ học được các thói quen của họ, cách họ tư duy, cách họ ra quyết định cũng như hiểu được cách thức vận hành của dòng tiền và sẽ trở nên giàu có vì điều đó. Hãy gặp gỡ, tiếp xúc, học hỏi với những người này. Nó sẽ thực sự thay đổi cuộc sống của bạn.
Sống thấp hơn nhu cầu, tối giản và hạn chế nợ
Đúng thế, hãy học cách sống tối giản, tiết kiệm. Hãy chi tiêu ít hơn số tiền bạn kiếm được. Vì rõ ràng, chúng ta sẽ không thể nào có sức khỏe tài chính tốt nếu kiếm được nhiều mà tiêu lại nhiều hơn.
Điều quan trọng không phải là bạn kiếm được bao nhiêu mà giữ lại được bao nhiêu.
Tiết kiệm cho điều tồi tệ nhất
Hãy để riêng ra một số tiền đủ lớn đến khoảng 50.000$ trước khi tăng nhu cầu và chi tiêu của bản thân. Với số tiền này sẽ giúp chúng ta có cơ hội để tạo ra thu nhập tự động bằng những khoản đầu tư, tiết kiệm hay đơn giản là phòng bị cho những biến cố của cuộc sống, sự nghiệp và có thể gây dựng lại từ đầu…
Cơ hội đầu tư có thể đến bất cứ lúc nào. Hãy tiết kiệm để có thể nắm bắt lấy nó.
Học, học nữa, học mãi.
Trường học không dạy chúng ta cách quản lý tiền bạc. Hãy tự tìm kiếm những cuốn sách để nâng cao năng lực bạn thân và tự giáo dục mình ngay từ bây giờ.
III. Các mối quan hệ
Hiểu rằng, “Xây dựng mối quan hệ” chính là một kỹ năng.
Có thể hiểu đơn giản là, việc tạo dựng những mối quan hệ cần được bản thân chúng ta rèn luyện, thực tập mỗi ngày để có thể đem lại những mối quan hệ tốt, có ích cho bản thân. Học cách giao tiếp tốt, học cách trở thành một đối tác tin cậy sẽ giúp những mối quan hệ xung quanh chúng ta trở nên rất có giá trị.
Tập trung vào sự phát triển của bản thân.
Để có thể xây dựng những mối quan hệ tốt, bản thân chúng ta phải tốt trước đã. “Nhiễu xạ tự nhiên hương” – nếu bản thân có đủ tài năng, phẩm chất thì sẽ rất dễ dàng để kết nối với những người giỏi giang và tài năng ngoài kia. Những mối quan hệ cùng đẳng cấp và giá trị sẽ dễ dàng để duy trì và làm sâu sắc hơn.
Chấp nhận sai
Chúng ta sẽ hoàn toàn không thể luôn đúng. Hãy chấp nhận sự thật rằng ai cũng có lúc mắc sai lầm, đưa ra những quyết định sai. Nên chẳng việc gì phải sợ hãi hay dằn vặt bản thân vì điều đó cả. Trong những mối quan hệ, đừng cố chấp rằng ai đúng, ai sai, đừng nghĩ rằng chúng ta luôn đúng. Việc xây dựng những mối quan hệ cần thực sự lưu ý điều này.
Không áp đặt
Chắc chắn là như vậy. Không cần nói gì hơn.
Hiểu cách bạn tương tác với người khác
Hiểu mình, hiểu tính cách, hiểu phong cách giao tiếp, hiểu ngôn ngữ tình yêu hay bất cứ thứ gì thuộc về bản thân mình sẽ giúp bạn tương tác hiệu quả với người khác.
Và quan trọng nhất: kiến thức của bản thân chính là chìa khóa thành công trong mọi mối quan hệ.
IV. Phát triển bản thân
Viết nhật ký mỗi ngày
Viết lại những cảm nghĩ, ý tưởng của mỗi ngày ra tờ giấy, cuốn sổ hoặc blog. Nó đưa ra một cách nhìn tổng quát về việc xử lý cảm xúc cũng như làm chủ bản thân. Thực hành thói quen này mỗi ngày, chỉ khoảng 2 – 5 phút ngắn ngủi nhưng sẽ giúp cho chúng ta rất nhiều.
Thiền trong 15 phút
Bạn không có lý do gì để không thiền. Những lợi ích là vô tận và nó sẽ thay đổi cuộc sống của bạn theo những cách mà bạn thậm chí không thể tưởng tượng được.
Thực hành nó 15 phút mỗi ngày trong 30 ngày tới và tôi hứa cuộc sống của bạn sẽ thay đổi.
Đưa sự tích cực vào bộ não
Nghe podcast, audiobook hoặc xem video về những điều tích cực và truyền cảm hứng.Tâm trí của bạn sẽ nhận được những ảnh hưởng tích cực đó và đưa vào cuộc sống, hành động của chúng ta.
Làm điều gì đó mà bạn sợ hãi
Bước ra khỏi vùng an toàn của bản thân. Làm thử những điều mà bấy lâu nay bạn vẫn sợ hại để đưa bản thân lên một tầm cao mới. Hãy bắt đầu bằng những việc nhỏ, đơn giản và thực thành dần dần. Những điều sợ hãi hay ngớ ngẩn này đôi khi lại rất tốt cho tư duy của bạn.
Yêu bản thân
Bạn là người quan trọng nhất trong cuộc đời của bạn. Hãy đối xử với bản thân như vậy!
Ưu tiên thời gian ở một mình, đối xử tốt với bản thân, tử tế với chính mình, yêu thương bản thân mình.
Tất cả những điều tuyệt vời đều bắt nguồn từ tình yêu bản thân.